- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Bảo K
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 2763/2023/QĐST-DS | Thủ Đức, ngày 01 tháng 8 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Minh
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Võ Thị Thanh Phượng - Kiểm sát viên;
Ngày 01/8/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 52/2023/TLST-DS ngày 11/01/2023 về yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp số 3936/2023/QĐ-MPH ngày 10/7/2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Ông Trần Bảo K, sinh năm 1975 (Có đơn xin vắng mặt)
Hộ khẩu thường trú: Số A Đường số B, Khu phố C, phường D, thành phố R, Thành phố Hồ Chí Minh.
Cư trú: E đường F, phường G, Quận L, Thành phố Hồ Chí Minh
- Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1974
Nơi cư trú cuối cùng: Số A Đường số B, Khu phố C, phường D, thành phố R, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích ngày 26/12/2022, bản tự khai, ông Trần Bảo K trình bày:
Ông Trần Bảo K và bà Nguyễn Thị T chung sống với nhau từ năm 2005 tại địa chỉ Số A Đường số B, Khu phố C, phường D, thành phố R, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2014, bà T bỏ đi khỏi nơi cư trú. Ông K đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không được. Nay ông yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1974; nơi cư trú cuối cùng: Số A Đường số B, Khu phố C, phường D, thành phố R, Thành phố Hồ Chí Minh mất tích. Vì lý do bận công việc nên ông K có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết việc dân sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án từ khi thụ lý cho đến khi mở phiên họp đúng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Trần Bảo K về việc yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị T mất tích;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, đã được thẩm tra tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định: 1. Về thủ tục tố tụng: Về thẩm quyền giải quyết: Ông Trần Bảo K yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị T mất tích. Theo kết quả xác minh của Công an phường D, thành phố Thủ Đức thì bà Nguyễn Thị T có nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ: Số A Đường số B, Khu phố C, phường D, thành phố R, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào Khoản 3 Điều 27, Điểm a Khoản 2 Điều 35, Điểm b Khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh;
- Người yêu cầu ông Trần Bảo K có đơn xin vắng mặt tại phiên họp. Vì vậy, Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt người yêu cầu theo quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. 2. Về nội dung: Xét yêu cầu của ông Trần Bảo K Căn cứ theo tài liệu, chứng cứ do ông K nộp cho Tòa án thì ông K và bà T có quan hệ vợ chồng. Vì vậy, ông K có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố bà T mất tích theo quy định tại Khoản 1 Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo trình bày của ông K thì bà T bỏ nhà đi từ năm 2014, không liên lạc với gia đình, hiện không biết ở đâu, không có bất cứ thông tin nào dù ông tìm mọi cách liên lạc. Căn cứ kết quả xác minh của Công an phường D, thành phố Thủ Đức thì: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1974 có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: Số A Đường số B, Khu phố C, phường D, thành phố R, Thành phố Hồ Chí Minh, hiện tại đã bán nhà, đi đâu, làm gì không rõ từ năm 2016 cho đến nay. Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tiến hành ban hành Quyết định số 800/2023/QĐ-TA ngày 10/3/2023 về việc thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà Nguyễn Thị T; Công văn số 1055/TATPTĐ ngày 10/3/2023 yêu cầu các cơ quan thông tin đăng và phát sóng nội dung quyết định thông báo của Tòa án; Việc đăng tin và phát sóng nội dung thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà Nguyễn Thị T đã được thực hiện trên Báo Thanh niên trong 03 số báo liên tiếp vào các ngày 22/3/2023, ngày 23/3/2023 và ngày 24/3/2023; phát sóng trên Đài Truyền hình Việt Nam trong 03 ngày liên tiếp vào các ngày 27/3/2023, 28/3/2023, 29/3/2023; đăng trên cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Từ những nhận định trên, có cơ sở xác định bà T đã biệt tích trên 02 năm, Tòa án đã tiến hành các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định pháp luật và đã hết thời hạn 04 tháng, kể từ ngày đăng, phát sóng thông báo lần đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức xác thực về bà T. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích”; căn cứ vào lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Tòa án thấy yêu cầu của ông K về việc tuyên bố bà T mất tích là có cơ sở và phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.
- Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Trần Bảo K phải chịu theo quy định của pháp luật;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 361; khoản 2 Điều 367; Điều 371; Điều 372; khoản 1 Điều 387; Điều 388; Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Bảo K
Tuyên bố bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1974; nơi cư trú cuối cùng: Số A Đường số B, Khu phố C, phường D, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh mất tích.
2. Về lệ phí: 300,000 (Ba trăm nghìn) đồng, ông Trần Bảo K phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí ông K đã nộp theo biên lai số 0007688 ngày 10/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông K đã nộp đủ lệ phí.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết hợp lệ; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân TP. Thủ Đức; - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thủ Đức; - UBND phường D; - Các đương sự; - Lưu HS,VP. | THẨM PHÁN Lê Thị Minh |