vanban.org

Quyết định 276/QĐ-TA

TAND TP. Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 29/10/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn C.

Thời hạn Nguyễn Văn C chấp hành tại cơ sở cai nghiện ma túy là 16 (mười sáu) tháng, kể từ ngày 28/9/2020. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại; Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyế… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn C"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 276 /QĐ-TASóc Trăng, ngày 29 tháng 10 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Trúc Phương.

2. Thư ký phiên họp: Ông Đặng Chí Thức.

Ngày 29 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 264/QĐ-TA ngày 23 tháng 10 năm 2020 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Văn C. Tên gọi khác: K. Giới tính: Nam.

Sinh ngày 20/10/1990.

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 08/12.

Nguyên quán: Bến Tre.

Nơi đăng ký thường trú: xã PM, huyện MCB, tỉnh Bến Tre.

Chỗ ở: không ổn định.

Nghề nghiệp: Làm thuê.

Tiền án: không; tiền sự: không.

Con ông Nguyễn Văn B (chết) và bà Võ Thị Đ.

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đặng Hoàng Kh, Chuyên viên phòng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng (theo Giấy ủy quyền ngày 26/10/2020) (có mặt).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Lê Ngọc, Kiểm sát viên.

3. Những người khác tham gia phiên họp:

- Công an phường S, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện theo ủy quyền là: Ông Nguyễn Chí L cán bộ Công an Phường S (theo Giấy ủy quyền ngày 29/10/2020) (có mặt).

NHẬN THẤY:

Tại bản tường trình và các biên bản ghi lời khai của Nguyễn Văn C, các tài liệu trong hồ sơ, thể hiện:

Vào ngày 28/9/2020 Nguyễn Văn C được Công an Phường S mời Nguyễn Văn C lên làm việc và xét nghiệm chất ma túy. Tại biên bản về việc xét nghiệm chất ma túy ngày 28/9/2020, phiếu xét nghiệm nước tiểu ngày 28/9/2020 và phiếu trả lời kết quả ngày 28/9/2020 của Trạm y tế phường 6, thành phố Sóc Trăng thì Nguyễn Văn C dương tính với ma túy (loại MDMA). Qua làm việc, Nguyễn Văn C thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy từ đầu năm 2020, loại sử dụng là thuốc lắc dạng kẹo (ma túy tổng hợp), lần sử dụng gần nhất vào ngày 27/9/2020. Theo kết quả tra cứu tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật thuộc Sở y tế Sóc Trăng, tại Công văn số 191/KSBT.AIDS ngày 12/10/2020 của Trung tâm kiểm soát bệnh tật Sở y tế tỉnh Sóc Trăng thì Nguyễn Văn C không có tham gia điều trị tại cơ sở điều trị Methadone thuộc khoa phòng, chống HIV/AIDS của Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Sóc Trăng.

Về nơi cư trú của Nguyễn Văn C thì thấy, Nguyễn Văn C khai Cảnh có đăng ký thường trú tại xã PM, huyện MCB, tỉnh Bến Tre nhưng từ khoảng 2 đến 3 năm nay C sống lang thang tại khu vực phường S, thành phố ST, làm nghề hát lô tô theo các đoàn lô tô nhưng không làm cố định ở đoàn nào và có thường tới lui nhà của anh Trương Ngọc V, địa chỉ khóm H, phường S, thành phố ST nhưng cũng không sinh sống thường xuyên và không có đăng ký tạm trú tại đây. Tại Biên bản ghi lời khai của anh Trương Ngọc V ngày 28/9/2020, thì anh V khai, anh V và C là bạn bè, C không thường xuyên sinh sống tại nhà của anh V và không có đăng ký tạm trú tại nhà anh.

Xét thấy, Nguyễn Văn C là người nghiện ma túy, không có chỗ ở ổn định thuộc đối tượng áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên Công an Phường S đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn C.

Tại Đề nghị số 558A/ĐN-UBND ngày 29/9/2020 của Ủy ban nhân dân Phường S, thành phố ST và Công văn số 461/CV-PLĐ ngày 16/10/2020 của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố ST đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ cở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn C tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng.

Tại phiên họp:

Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố ST ông Đặng Hoàng Kh trình bày: Nguyễn Văn C là người đủ 18 tuổi không có nơi cư trú ổn định nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy với hành vi trên căn cứ khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 1 của Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn C, đề nghị áp dụng thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện ma túy đối với Nguyễn Văn C là 20 tháng.

Người bị đề nghị Nguyễn Văn C tại phiên họp không thừa nhận bị nghiện ma túy mà chỉ mới sử dụng thuốc lắc lần đầu ngày 27/9/2020 tại quán Karaoke và C không phải là người sống lang thang mà sống thường xuyên tại nhà của anh Trương Ngọc V tại địa chỉ khóm H, phường S, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng nên C không đồng ý đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng phát biểu ý kiến, nhận định quy trình lập hồ sơ, xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn C đã được các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật, cân nhắc về nhân thân, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn C thời hạn từ 16 đến 18 tháng.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ ý kiến của cơ quan đề nghị, người bị đề nghị và ý kiến của Kiểm sát viên:

Xét về tình trạng nghiện ma túy của Nguyễn Văn C: Tại bản tường trình do C tự viết ngày 28/9/2020 (bút lục 06), C trình bày: “ Nguyễn Văn C sinh năm 1990 đăng ký thường trú xã PM, huyện MCB, tỉnh Bến Tre, tôi thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy, không nơi cư trú ổn định, sống lang thang tại địa bàn thành phố ST, tôi bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy đầu năm 2020, ngày sử dụng gần nhất là ngày 27/9/2020 tôi sử dụng trái phép chất ma túy ở nhờ nhà số khóm H, phường S, thành phố ST được một hai ngày thì tôi tiếp tục đi, tôi xin cam đoan lời tôi viết ra là hoàn toàn đúng sự thật nếu sai tôi chịu trách nhiệm trước pháp luật” và tại phiên họp C cũng thừa nhận những lời khai vào ngày 28/9/2020 khi làm việc với Công an Phường S, thành phố ST là do C tự khai không ai ép buộc.

Lời trình bày này của C phù hợp với kết quả tại Phiếu xét nghiệm nước tiểu ngày 28/9/2020 (bút lục 11) xác định C dương tính với ma túy tổng hợp MDMA và tại Phiếu trả lời kết quả của Bác sĩ Lâm RaTaNa (bút lục 12) trạm y tế Phường S, thành phố ST xác định tình trạng của Nguyễn Văn C là nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là Methylen Dioxy Methamphetamin (MDMA). Tại phiên họp C cho rằng mình không nghiện ma túy nhưng không đưa ra được căn cứ để chứng minh việc thay đổi lời khai tại phiên họp là có căn cứ nên không có cơ sở để Tòa án chấp nhận.

Căn cứ vào lời khai của C ngày 28/9/2020 tại Công an Phường S, thành phố ST và kết quả trả lời của Trạm y tế Phường S nên Công an Phường S xác định Nguyễn Văn C là người nghiện ma túy là có căn cứ.

Xét về nơi cư trú của Nguyễn Văn C thì thấy: C đăng ký thường trú tại xã PM, huyện MCB, tỉnh Bến Tre nhưng không sinh sống tại đây, mà sinh sống tại địa bàn thành phố ST nhiều năm nay, C thừa nhận không đăng ký tạm trú tại địa bàn thành phố Sóc Trăng.

Tuy nhiên, tại phiên họp C khai thường xuyên sinh sống tại địa chỉ khóm H, phường S, thành phố ST của nhà anh Trương Ngọc V, nhưng tại tờ tường trình do C viết vào ngày 28/9/2020 nêu trên C khai là không thường xuyên sinh sống tại nhà anh V và lời trình bày ngày 28/9/2020 của C phù hợp với lời khai của anh Trương Ngọc V, tại biên bản ghi lời khai ngày 28/9/2020 (bút lục 14) anh V trình bày: “tôi và Nguyễn Văn C tên thường gọi là K là bạn bè quen biết ngoài xã hội, C làm nghề hát trong đoàn lô tô nhưng tôi không biết đoàn nào, không thường xuyên sinh sống tại nhà tôi khóm H, phường S, thành phố ST. C không có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Sóc Trăng cũng như đăng ký tạm trú tại nhà khóm H, phường S, thành phố ST, lời trình bày của tôi là sự thật, tôi tự nguyện khai, không ai ép buộc tôi khai, nếu sai tôi chịu trách nhiệm trước pháp luật”

Từ đó cho thấy, mặc dù C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bến Tre nhưng đã bỏ địa phương và cũng không thường xuyên sinh sống ổn định tại địa chỉ nhà khóm H, phường S, thành phố ST, không ở một nơi cố định. Tại Nghị định số 56/2016/NĐ-CP ngày 29/6/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn tại điểm 5 Điều 1 sửa đổi, bổ sung Điều 13 quy định: “không có nơi cư trú ổn định là trường hợp không xác định được nơi cư trú hoặc nơi đăng ký tạm trú của người vi phạm và người đó thường xuyên đi lang thang, không ở một nơi cố định hoặc trường hợp xác định được nơi đăng ký thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú của người vi phạm nhưng người đó thường đi lang thang, không ở một nơi cố định”, do vậy, Công an Phường S xác định C là người không có nơi cư trú ổn định và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp theo hướng dẫn của Nghị định số 56/2016 NĐ-CP ngày 29/6/2016 của Chính phủ.

Xét thấy, Nguyễn Văn C là người đủ 18 tuổi, nghiện ma túy nhưng không có nơi cư trú ổn định nên thuộc đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính. Do đó, đề nghị của Ủy ban nhân dân Phường S và Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố ST đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn C là có căn cứ chấp nhận.

Xét hồ sơ đề nghị đã được Công an Phường S, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng lập còn thời hiệu, đúng đối tượng, đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại các Điều 4, Điều 8, Điều 11 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 và Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ–CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013. Phòng Tư pháp thành phố Sóc Trăng có văn bản kiểm tra tính pháp lý hồ sơ của Nguyễn Văn C và Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội có văn bản đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn C là đúng trình tự thủ tục quy định tại các Điều 12, Điều 13 của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 và Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ–CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của Nguyễn Văn C thì thấy: C từ trước đến nay không có tiền án, tiền sự; có thái độ thành khẩn khai báo hành vi sử dụng ma túy, C là người mới bắt đầu sử dụng ma túy từ đầu năm 2020 các tình tiết này sẽ được xem xét để giảm nhẹ một phần thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện ma túy.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng là có căn cứ phù hợp theo quy định pháp luật nên Tòa án chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, khoản 2 Điều 95; khoản 1 Điều 96, Điều 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 19, Điều 22, 23, 30, 31, 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn C.

2. Thời hạn Nguyễn Văn C chấp hành tại cơ sở cai nghiện ma túy là 16 (mười sáu) tháng, kể từ ngày 28/9/2020.

3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại; Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng phối hợp với Công an thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng đưa Nguyễn Văn C vào cơ sở cai nghiện bắt buộc buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng, địa chỉ: số 80, đường Hồ Nước Ngọt, khóm 2, phường 5, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

Cỡ chữ