vanban.org

Quyết định 27/QĐ-TA

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 11/08/2022 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Quốc T.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (Mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, Phòng Lao động-Thương binh và xã hội thành phố P có … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lê Quốc T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Quốc T.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 27/QĐ-TAPleiku, ngày 11 tháng 8 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Rmah HThuyên

2. Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Ngọc Yến

Ngày 11 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” theo Quyết định mở phiên họp số 27/QĐ-TA ngày 05 tháng 8 năm 2022 đối với:

Họ và tên: Lê Quốc T; Giới tính: Nam; Sinh ngày 22 tháng 10 năm 1999; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Nguyên quán: Huyện M -Quảng Ngãi.

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn 1, xã N, huyện C, tỉnh Gia Lai.

Chỗ ở hiện nay: Không có nơi ở nhất định.

Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Con ông Lê D và bà Phan Thị T.

(Vắng mặt tại phiên họp)

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Trần Thị Minh, là Chuyên viên của Phòng Lao động-Thương binh và xã hội thành phố P, tỉnh Gia Lai (văn bản ủy quyền số 27/UQ-LĐTBXH ngày 11-8-2022).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai: Bà Cao Thảo Nga-Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Lê Quốc T là người nghiện ma túy, Tùng bắt đầu sử dụng ma túy từ tháng 06 năm 2022, loại ma túy sử dụng là ma túy dạng khay, kẹo. Hình thức sử dụng là hít.

Vào lúc 23 giờ 00 phút ngày 18-7-2022 tại số nhà 09 đường H, tổ 7, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Lê Quốc T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (ma túy dạng khay, kẹo), quy định tại khoản 1, Điều 23 Nghị định 144/NĐ-CP/2021 của Chính phủ.

Khi T đang sử dụng trái phép chất ma túy tại địa bàn thành phố P thì bị Công an phường P phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính. Công an phường P, thành phố P đã có Công văn gửi Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai về việc đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Lê Quốc T. Kết quả xác định: Lê Quốc T có nghiện ma túy loại ma túy đá.

Đại diện Phòng Lao động-Thương binh và xã hội thành phố P, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố P xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Quốc T với thời hạn từ 12 tháng đến 18 tháng.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên họp: Hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội đảm bảo đúng đối tượng và đầy đủ cơ sở pháp lý, nhất trí với hồ sơ đề nghị, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Quốc T.

XÉT THẤY:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Đầy đủ các tài liệu, giấy tờ theo quy định tại khoản 2 Điều 41 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ.

Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vẫn còn theo quy định tại Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi bổ sung năm 2020.

Lê Quốc T là người nghiện ma túy nhưng không có nơi cư trú ổn định là đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy năm 2021.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P lập hồ sơ đối với đối tượng Lê Quốc T là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi bổ sung năm 2020.

Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Lê Quốc T được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ.

Lê Quốc T là người nghiện ma túy, Tùng bắt đầu sử dụng ma túy từ tháng 06 năm 2022, loại ma túy sử dụng là Ma túy dạng khay, kẹo. Hình thức sử dụng là hít. Việc sử dụng trái phép chất ma túy không những gây tác hại cho chính bản thân người sử dụng mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của xã hội.

Ngày 18-7-2022, Lê Quốc T tiếp tục sử dụng ma túy. Khi T đang sử dụng trái phép chất ma túy tại địa bàn thành phố P thì bị Công an phường P, thành phố P phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính. Cơ sở tư vấn và cai nghiện ma túy, thuộc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Gia Lai có kết quả xác định: Lê Quốc T có nghiện ma túy loại ma túy đá.

Vì vậy, cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Quốc T là phù hợp.

Căn cứ vào các Điều 6, 9, 10, 95, 96, 103, 104, 105, 107 và 108 Luật xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi bổ sung năm 2020;

Căn cứ Điều 32 của Luật phòng chống ma túy năm 2021;

Căn cứ vào các Điều 2, 3, 22, 23, 24, 29, 30, 31 và 32 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20-01-2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Căn cứ vào các Điều 2, 40, 41, 42, 43, 50, 51, 52, 54 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ;

Căn cứ Điều 41 Nghị định số 105/2021/NĐ-CP ngày 04-12-2021 của Chính phủ;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Quốc T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (Mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, Phòng Lao động-Thương binh và xã hội thành phố P có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P có quyền kháng nghị Quyết định của Tòa án.

Riêng đối với Lê Quốc T vắng mặt tại phiên họp có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày quyết định được tống đạt hợp lệ.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Cỡ chữ