vanban.org

Quyết định 27/2025/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh L V S.

Cơ sở tiếp nhận ban đầu: Cơ sở cai nghiện ma túy số 02 Hà Nội; địa chỉ: Xã Tân Minh, thành phố Hà Nội. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày anh L V S bị tạm giữ hành chính để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 30/7/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "ADBPXLHC"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh L V S.
  • Căn cứ chính? Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 27/2025/QĐ-TAHà Nội, ngày 20 tháng 8 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HÀ NỘI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Thái Thị Hà Thu.

2. Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Huyền Trang – Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 5 – Hà Nội.

Ngày 20 tháng 8 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Hà Nội tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 30/2025/QĐ-TA ngày 14 tháng 8 năm 2025, đối với người bị đề nghị:

L V S, sinh ngày 20 tháng 10 năm 2004; Giới tính: Nam; Căn cước công dân: 012204004077; Nơi đăng ký thường trú: Bản M2, xã O, tỉnh Lai Châu; Nơi ở hiện tại: Lang thang, không nơi ở cố định; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: L V L, sinh năm 1983 và bà H T S1, sinh năm 1984. Tiền án, tiền sự: không có.

L V S tạm giữ theo thủ tục hành chính ngày 30/7/2025, hiện đang bị quản lý tại Cơ sở cai nghiện số 02 Hà Nội; địa chỉ: xã Tân Minh, thành phố Hà Nội.

Người bị đề nghị L V S vắng mặt tại phiên họp có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Có sự tham gia của:

1. Người đề nghị: Ông Phạm Trung Hiếu; chức vụ: Phó trưởng Công an Phường P, thành phố Hà Nội.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Hà Nội: Bà Trần Thị Ánh Tuyết – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên họp, nội dung vụ việc được tóm tắt như sau:

Tại bản tường trình ngày 30/7/2025, anh L V S thừa nhận nghiện ma túy từ tháng 3 năm 2024 đến nay, lần sử dụng chất ma túy gần nhất là ngày 29/7/2025. Ngày 30/7/2025, Công an phường P, thành phố Hà Nội tiến hành xét nghiệm ma túy bằng hình thức xét nghiệm nước tiểu, kết quả anh L V S dương tính với chất ma túy trong cơ thể nên đề nghị Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 xác định tình trạng nghiện ma túy của anh L V S. Theo phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 01/8/2025 của Cơ sở Cai nghiện ma túy số 2 Hà Nội kết luận anh L V S có nghiện ma túy dạng thuốc phiện. Ngày 01/8/2025, Công an phường P đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với L V S về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Theo biên bản làm việc ngày 01/8/2025 do Công an phường P lập, thể hiện: anh L V S không có nơi cư trú ổn định, đã nhiều lần tự bỏ ma túy nhưng không được, bản thân không đủ điều khiện cai nghiện ma túy tự nguyện và có nguyện vọng cai nghiện ma túy bằng hình thức bắt buộc nên Công an phường P quyết định đưa anh L V S vào Cơ sở cai nghiện ma túy số 02 Hà Nội để quản lý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 02/8/2025, Công an phường P ban hành Thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 07/TB-CALP đối với anh L V S.

Ngày 12/8/2025, Công an phường P ban hành đã ban hành văn bản số 07/ĐN-CNBB đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh L V S.

Tại phiên họp hôm nay:

Công an phường P đề nghị Toà án xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh L V S, thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng kể từ ngày 30/7/2025 tính từ ngày 30/7/2025 tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 02 Hà Nội.

Người bị đề nghị là anh L V S có đơn xin vắng mặt tại phiên họp thể hiện quan điểm giữ nguyên lời trình bày đã có trong hồ sơ và đề nghị Tòa án xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Hà Nội phát biểu ý kiến: Thành phần hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh L V S là đúng quy định tại Điều 41 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021, thời hạn lập hồ sơ đúng quy định tại Điều 42 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021, Điều 7 và Điều 8 Thông tư liên tịch 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025. Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hà Nội thụ lý và giải quyết vụ việc đúng thẩm quyền. Tại phiên họp, Thẩm phán và Thư ký tòa án đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh L V S, với thời hạn từ 13 tháng đến 16 tháng kể từ ngày anh L V S bị tạm giữ hành chính để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 30/7/2025.

XÉT THẤY:

[1] Về thẩm quyền của Tòa án: Công an phường P, thành phố Hà Nội chuyển hồ sơ đề nghị xem xét đưa anh L V S vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hà Nội có thẩm quyền xem xét theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2022.

[2] Về tính hợp pháp của hồ sơ:

Thành phần hồ sơ, thời hạn lập hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh L V S tuân thủ đúng quy định tại các điều 40, 41, 42 của Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021; Điều 7 và Điều 8 Thông tư liên tịch 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 Quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước.

Ngày 29/7/2025, anh L V S có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, tính đến thời điểm Tòa án mở phiên họp là trong thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

[3] Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm: Anh L V S đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự, năng lực pháp luật hành chính là người nghiện ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy, anh S không có nơi cư trú ổn định. Do đó, anh L V S thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc theo khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng: Anh S không có tình tiết tăng nặng và có tình tiết giảm nhẹ: tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2020), nhân thân không có tiền án, tiền sự, nhận thức được hành vi của mình là sai, lấy đó làm căn cứ giảm một phần thời gian cai nghiện bắt buộc cho anh S để anh S sớm trở về với gia đình, hòa nhập cộng đồng.

Từ những căn cứ trên, thấy đề nghị của Công an phường P và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Hà Nội tại phiên họp cơ bản phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều: 3, 6, 9, 10, 95, 96, 105, 107 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy;

Áp dụng các Điều: 40, 41, 42 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Các Điều: 7, 8, 11 của Thông tư liên tịch 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 Quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước; Các Điều: 3, 20, 21, 23, 24, 30, 31 và Điều 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH13 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh L V S.

Cơ sở tiếp nhận ban đầu: Cơ sở cai nghiện ma túy số 02 Hà Nội; địa chỉ: Xã Tân Minh, thành phố Hà Nội.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày anh L V S bị tạm giữ hành chính để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 30/7/2025.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định này, anh L V S được quyền khiếu nại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Hà Nội. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày quyết định này được công bố, Trưởng công an phường P có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Hà Nội có quyền kháng nghị Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Hà Nội.

Anh L V S khiếu nại thì phải gửi đơn đến Tòa án đã xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, trong đó nêu rõ lý do và căn cứ khiếu nại.

Trưởng công an phường P kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Hà Nội kháng nghị bằng văn bản, trong đó nêu rõ lý do và căn cứ kiến nghị, kháng nghị gửi đến Tòa án đã xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Trưởng công an phường P, Cơ sở cai nghiện số 02 Hà Nội, các cơ quan liên quan và anh L V S thi hành quyết định này./.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ