vanban.org

Quyết định 27/2023/DS-GĐT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 09/08/2023 Dân sự Tái thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/08/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 62/2020/DS-ST ngày 29/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tuy P, tỉnh Bình Định về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn là ông Lê Cao G với bị đơn là bà Trần Thị P; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Tuy P, tỉnh Bình Định để xét xử s…

Quyết định tái thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Hội đồng tái thẩm ra quyết định. Vụ GĐKT II- TANDTC; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "LÊ CAO G -TRẦN THỊ P"
  • Tòa quyết gì? Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 62/2020/DS-ST ngày 29/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tuy P, tỉnh Bình Định về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn là ông Lê Cao G với bị đơn là bà Trần Thị P; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Tuy P, tỉnh Bình Định để xét xử s…
  • Căn cứ chính? Điều 337 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 348 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 349 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
Quyết định tái thẩm

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 27/2023/DS-GĐT
Ngày 09/8/2023
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ỦY BAN THẨM PHÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng gồm có:

Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Tuấn.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Cường và ông Lê Phước Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa tái thẩm xét xử vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lê Cao G, sinh năm 1955; Địa chỉ: thôn Bình A, xã Phước T, huyện Tuy P, tỉnh Bình Định.

Bị đơn: Bà Trần Thị P, sinh năm 1978; Địa chỉ: Thôn Bình A 1, Phước T, huyện Tuy P, tỉnh Bình Định.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị D, sinh năm 1954;

Địa chỉ: Thôn Bình A 2, xã Phước T, huyện Tuy P, tỉnh Bình Định.

Bà D ủy quyền cho ông G theo văn bản ngày 9/3/2020.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 14/02/2019, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn ông Lê Cao G trình bày:

Xuất phát từ sự quen biết bà P có đến nhà ông G vay tiền 09 lần:

1. Giấy vay tiền ngày 25/7/2017 âm lịch (15/9/2017 dương lịch) vay 30.000.000 đồng, lãi suất 135.000 đồng/ tháng, hẹn 01 tháng trả lại.

2. Giấy vay tiền ngày 01/8/2017 âm lịch (ngày 20/9/2017 dương lịch) vay 30.000.000 đồng, lãi suất 135.000 đồng/ tháng.

3. Giấy vay tiền ngày 25/8/2017 âm lịch (ngày 14/10/2017 dương lịch) vay 65.000.000 đồng, lãi suất 135.000 đồng/ tháng, hẹn 01 tháng trả lại.

1

4. Giấy vay tiền ngày 12/10/2017 âm lịch (ngày 29/11/2017 dương lịch) vay 35.000.000 đồng, lãi suất 70.000 đồng/ngày, hẹn 01 tháng trả lại.

5. Giấy vay tiền ngày 02/11/2017 âm lịch (ngày 19/12/2017 dương lịch) vay 100.000.000 đồng, lãi suất 200.000 đồng/ngày, hẹn 01 tháng trả lại.

6. Giấy vay tiền ngày 28/01/2018 âm lịch (ngày 15/3/2018 dương lịch) vay 30.000.000 đồng, lãi suất 70.000 đồng/ngày, hẹn 01 tháng trả lại.

7. Giấy vay tiền ngày 07/4/2018 âm lịch (ngày 21/5/2018 dương lịch) vay 10.000.000 đồng, lãi suất 20.000 đồng/ngày, hẹn 01 tháng trả lại.

8. Giấy vay tiền ngày 02/7/2018 âm lịch (ngày 12/8/2018 dương lịch) vay 25.000.000 đồng (không ghi tính lãi suất).

9. Giấy vay tiền ngày 19/8/2018 âm lịch (tức ngày 28/9/2018 dương lịch) vay 250.000.000 đồng (không ghi tính lãi suất).

Cả 09 giấy vay tiền bà Trần Thị P đều viết và ký vào “Giấy vay tiền”, trong đó 07 giấy vay tiền đều hẹn một tháng sẽ trả gốc và lãi suất như đã ghi trong “Giấy vay tiền”; còn lại giấy vay tiền lần 8 và 9 thì không ghi tính lãi suất.

Trong đó, Giấy vay tiền ngày 19/8/2018 (âm lịch) bà P có viết tay “Giấy vay tiền thế sổ đỏ” và bà P đã giao cho ông Giác 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số xê ri BK 206874, số vào sổ cấp CHI7574, do Ủy ban nhân dân huyện Tuy P cấp ngày 10/9/2018 cho bà Trần Thị P.

Ông G khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị P trả nợ gốc là 575.000.000 đồng, và lãi suất theo lãi suất ngân hàng quá hạn 1,35%/tháng tương ứng với sổ tiền trong 7 lần vay, ứng với thời gian từ ngày vay đến ngày xét xử 29/6/2020 là 120.376.025 đồng.

Tổng cộng gốc và lãi ông G yêu cầu bà P trả nợ là 695.376.025 đồng.

Bị đơn bà Trần Thị P đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng từ chối không đến Tòa án, không có ý kiến trình bày và yêu cầu gì đối với nguyên đơn.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 62/2020/DS-ST ngày 29/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tuy P, tỉnh Bình Định quyết định:

1. Buộc bà Trần Thị P phải trả cho ông Lê Cao G, bà Võ Thị D số tiền là 695.376.025 đồng (gốc 575.000.000 đồng, lãi 120.376.025 đồng, tính đến ngày xét xử 29/6/2020).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án.

Tại Quyết định kháng nghị tái thẩm 40/QĐ -VKS-DS ngày 10/5/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kháng nghị, đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử hủy toàn bộ Bản án

2

dân sự phúc thẩm nêu trên giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện Tuy P, tỉnh Bình Định để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Từ ngày 15/9/2017 đến ngày 28/9/2019, bà Trần Thị P đã vay của ông Lê Cao G 09 lần với tổng số tiền là 575.000.000 đồng. Trong đó lần vay vào ngày 19/8/2018 (âm lịch) vay 250.000.000 đồng, bà P có thế chấp cho ông Giác 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số BK 206874, thửa đất số 66, tờ bản đồ số 51, diện tích 100, 2 m2 do Ủy ban nhân dân huyện Tuy P cấp ngày 10/9/2018 mang tên bà Trần Thị P.

Quá trình thi hành án, Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy P xác minh phát hiện bà P không có tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất đã thế chấp cho ông G. Ngày 21/01/2022, ông Lê Cao G giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy P 01 (một) Giấy chúng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 206874, thửa đất số 66, tờ bản đồ số 51, diện tích 100, 2 m2 tại thôn Ngọc T 2, xã Phước A, huyện Tuy P, tỉnh Bình Định do ủy ban nhân dân huyện Tuy P cấp ngày 10/9/2018 cho bà Trần Thị P.

Ngày 04/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy P ra Quyết định trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Định giám định đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nêu trên. Tại kết luận giám định số 79/PC09 ngày 18/3/2022 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Định kết luận “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất mẫu cần giám định ký hiệu A là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả”.

Ngày 21/3/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Tuy P đã ban hành Quyết định khởi tố vụ án số 56/QĐ-ĐTTH và Quyết định khởi tố bị can số 66/QĐ-ĐTTH với bà Trần Thị P về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Như vậy, việc bà P dùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả thế chấp cho ông Giác để vay tiền là tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung của Bản án dân sự sơ thẩm số 62/2020/DS-ST ngày 29/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tuy P, tỉnh Bình Định.

Do đó, Hội đồng xét xử tái thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 62/2020/DS-ST ngày 29/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tuy P, tỉnh Bình

3

Định để xét xử sơ thẩm lại.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 337, Điều 348, Điều 349; khoản 2 Điều 356, Điều 357 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

1. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 62/2020/DS-ST ngày 29/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tuy P, tỉnh Bình Định về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn là ông Lê Cao G với bị đơn là bà Trần Thị P; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Tuy P, tỉnh Bình Định để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

2. Quyết định tái thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Hội đồng tái thẩm ra quyết định.

Cỡ chữ