- Tranh chấp gì? "Vương T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đối với: Vương T, sinh ngày 23 tháng 6 năm 1988.
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 27/2022/QĐ-TA | Hữu Lũng, ngày 13 tháng 12 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Hoàng Hải Đoàn.
2. Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Lý Hoài.
Ngày 13 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 27/QĐ-TA ngày 06 tháng 12 năm 2022, đối với:
Họ và tên: Vương T; giới tính: Nam; sinh ngày 23 tháng 6 năm 1988.
CCCD số: 0200xxxxxxx; ngày cấp 24 tháng 6 năm 20xx; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Trình độ văn hóa: Lớp 9/12.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Tiền án: không;
Tiền sự: Ngày 11/8/2021, Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn ra Quyết định số: 353/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Vương T (đã chấp hành xong ngày 10/11/2021).
Con ông Vương P (đã chết) và bà Trần C.
Vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn: Ông Triệu Đức Hoan – Chuyên viên.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn: Ông Mã Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, hành vi vi phạm của Vương T được tóm tắt như sau:
Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 16/11/2022, của Trung tâm y tế huyện H, xác định kết quả Vương T nghiện ma túy Heroine. Tại bản tường trình Vương T đã khai nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình; bản thân nghiện ma túy từ đầu năm 2017, loại ma túy sử dụng là Heroine; sử dụng hằng ngày, lần sử dụng gần nhất vào ngày 15/11/2022; hiện nay chưa thực hiện biện pháp cai nghiện nào.
Ngày 24/11/2022, Ủy ban nhân dân xã H đã lập biên bản vi phạm về việc cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với Vương T do không thực hiện đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng hoặc đăng ký uống Methadone tại Trung tâm y tế theo thông báo số: 100/TB-CAX ngày 16/11/2022 của Công an xã H.
Ngày 02/12/2022, Trưởng phòng Lao động Thương binh Xã hội - Dân tộc huyện H, có văn bản số: 283/ĐN-CNBB đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vương T.
Tại phiên họp đại diện cơ quan đề nghị trình bày: Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Vương T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn, thời gian cai nghiện từ 20-22 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Hồ sơ, thủ tục về việc đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đầy đủ, đảm bảo tuân thủ đúng quy định. Trình tự, thủ tục tại phiên họp được thực hiện đầy đủ. Phòng Lao động Thương binh Xã hội - Dân tộc huyện đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vương T là có căn cứ. Do đó, đề nghị căn Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 10, khoản 2 Điều 95, cứ Điều 96, 103, 104, 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ; Các Điều 3, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 14, 16, 17, 20 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, đưa đối tượng Vương T đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn, thời gian cai nghiện từ 20-22 tháng.
XÉT THẤY:
Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Hồ sơ được lập đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục và đảm bảo đầy đủ các tài liệu theo quy định tại Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính, được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2020 (sau đây gọi tắt Luật Xử lý vi phạm hành chính) và các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021, của Chính phủ, quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Về thời hiệu áp dụng: Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu là 03 tháng kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Do đó, thời hiệu đảm bảo phù hợp theo quy định.
Đối tượng Vương T là người nghiện ma túy heroine, có nơi cư trú ổn định, đã được Công an xã H thông báo đăng ký cai nghiện tự nguyện tại cộng đồng hoặc đăng ký uống Methadone tại Trung tâm y tế nhưng không thực hiện nên thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021.
Vì vậy, có đủ cơ sở khẳng định hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vương T là đầy đủ, hợp pháp, thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ trong quá trình lập hồ sơ người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo thành thật hối lỗi, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Về tình tiết tăng nặng: Có 01 tình tiết tái phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Xét về nhân thân: Vương T là người đã trưởng thành nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện nên bản thân mắc nghiện ma túy từ năm 2017 và bị lệ thuộc vào chất ma túy; có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Vương T là người có đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức rõ hành vi vi phạm của mình là có lỗi, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý hành chính nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, việc đưa Vương T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết.
Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến tại phiên họp, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của người bị đề nghị. Xét thấy cần đưa người bị đề nghị vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 20 tháng là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, đảm bảo có thời gian hợp lý để lao động, học tập và cai nghiện ma túy dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc. Có như vậy mới có thể răn đe, giáo dục người bị đề nghị trở thành người công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; điểm b khoản 1 Điều 10; Điều 95, Điều 96; Điều 103; Điều 104; Điều 105 và Điều 110 của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Điều 27; Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021. Điều 40; Điều 41; Điều 42; Điều 43 Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ. Điều 19; Điều 22; Điều 23; Điều 24; Điều 30; Điều 31 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đối với: Vương T, sinh ngày 23 tháng 6 năm 1988. Hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
Địa điểm cai nghiện bắt buộc: Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn, địa chỉ: Km 10, xã Tân Thành, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định:
Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính vắng mặt tại phiên họp có quyền khiếu nại quyết định trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày niêm yết.
Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động Thương binh Xã hội - Dân Tộc huyện H phối hợp với Công an huyện H, đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - Người bị áp dụng; - Phòng LĐTBXH-DT huyện Hữu Lũng; - Công an huyện Hữu Lũng; - VKSND huyện Hữu Lũng; - UBND xã H; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Hoàng Hải Đoàn |