- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Luật Phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/ 2022/ HS-ST Ngày: 13 - 5 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁNNHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Văn Phong
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Ông Lưu Xuân Hiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thùy Dung, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2022, tại Hội trường Ủy ban nhân dân phường Cải Đan, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, Tòa án nhân dân thành phố Sông Công xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/ 2022/ QĐXXST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Văn B, sinh ngày 25 tháng 5 năm 1998, tại thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên; nơi cư trú: Tổ 3, phường Châu Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá (học vấn): lớp 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Dương Văn Nam và bà Lê Thị Hà; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Bản án số 49/ HS – ST ngày 16/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tiền sự: Ngày 19/7/2020, bị cáo bị Công an thành phố Sông Công xử phạt vi phạm hành C, phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ dao trong người nhằm mục đích gây thương tích cho người khác” (Quyết định số 0008980, bị cáo chưa nộp tiền phạt); bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Sông Công từ ngày 17/01/2022 cho đến nay (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Dương Văn T, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ dân phố 3, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).
- Người chứng kiến:
+ Anh Vũ Văn C, sinh năm 1986; địa chỉ: Xóm B, xã B, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt)
+ Ông Dương Tiến M, sinh năm 1966; địa chỉ: Tổ 3, phường C, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 45 phút ngày 17/01/2022, tại quán cắt tóc của Dương Văn B thuộc xóm Bãi Hát, xã Bá Xuyên, thành phố Sông Công, Tổ công tác Công an thành phố Sông Công phát hiện, bắt quả tang, thu giữ của B 01 gói nilon chứa chất rắn, màu trắng được cất giấu trong 01 lá cờ tại phòng vệ sinh của quán cắt tóc, ngoài ra còn tạm giữ của B 01 xe mô tô biển số 20B2 – 498.47, nhãn hiệu Honda wave. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng, đưa B cùng toàn bộ vật chứng và đồ vật liên quan về trụ sở để làm việc.
Tiến hành trưng cầu giám định đối với số chất rắn, màu trắng thu giữ của B, tại bản kết luận giám định số 284/KL-KTHS ngày 26/01/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Số chất rắn, màu trắng gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,109 gam.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo B khai bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy. Khoảng 12 giờ ngày 17/01/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy, B mượn xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, biển số 20B2-498.47 của anh Dương Văn T, trú tại tổ dân phố 3, phường Châu Sơn, thành phố Sông Công, một mình điều khiển xe mô tô đi đến khu vực xóm Kim Tỉnh, xã Trung Thành, thị xã Phổ Yên, mục đích mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, B đi đến một nhà dân ở bên trái đường Quốc lộ 3 - hướng Thái Nguyên đi Hà Nôi, là nơi trước đây B đã mua ma túy, rồi đưa số tiền 150.000 đồng qua lỗ dưới đáy cửa, thì được một người ở trong nhà đưa cho B 01 túi nilon bên trong chứa ma túy, loại heroine. B cầm gói ma túy, rồi điều khiển xe đi về quán cắt tóc của mình ở xóm Bãi Hát, xã Bá Xuyên, thành phố Sông Công và cất giấu ma túy trong 01 lá cờ để tại phòng vệ sinh của quán. Sau đó, bị Tổ công tác Công an thành phố Sông Công kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như nêu trên.
Về vật chứng và đồ vật liên quan trong vụ án: 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có 0,093 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1; 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong chứa vỏ bao gói mẫu A và túi nilon; 01 lá cờ Tổ quốc Việt Nam, kích thước (100x70)cm đã được chuyển, bảo quản theo quy trình quản lý vật chứng.
Chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh đen, biển số 20B2 - 498.47 qua xác minh xác định được là của anh Dương Văn T (là anh trai bị cáo B) cho bị cáo mượn, anh T không biết bị cáo B sử dụng xe mô tô đi mua ma túy, Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho anh T quản lý, sử dụng.
Tại bản cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 14/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công đã truy tố bị cáo Dương Văn B về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo B về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Dương Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt B từ 24 đến 30 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo; về vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ: 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có 0,093 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1; 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong chứa vỏ bao gói mẫu A và túi nilon, trả cho bị cáo 01 lá Cờ Tổ quốc Việt Nam; về án phí, đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo B không có ý kiến tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo thấy rất ăn năn về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất, để bị cáo cải tạo tốt sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Sông Công, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại giai đoạn điều tra và phiên tòa, bị cáo Dương Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người chứng kiến, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ xác định: Hồi 13 giờ 45 phút ngày 17/01/2022, tại xóm Bãi Hát, xã Bá Xuyên, thành phố Sông Công, Dương Văn B đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,109 gam chất ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân, thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Dương Văn B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine.....….có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam....”.
Về nguồn gốc ma túy thu giữ của bị cáo B, bị cáo khai mua tại một nhà người dân ở bên trái đường Quốc lộ 3 - hướng Thái Nguyên đi Hà Nội thuộc địa phận khu vực xóm Kim Tỉnh, xã Trung Thành, thành phố Phổ Yên. Đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định.
Đánh giá về tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
3.1. Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo B là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất ma tuý, gây mất trật tự an toàn xã hội.
3.2. Về nhân thân: Bị cáo B sinh ra, lớn lên tại địa phương, được gia đình nuôi ăn học hết lớp 7/12, làm lao động tự do. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, nhưng do ham chơi, đua đòi, đã sa ngã vào con đường nghiện chất ma túy và thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo có nhân thân xấu, hiện đang có 01 tiền án, năm 2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Sông Công xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 tiền sự ngày 19/7/2020 bị Công an thành phố Sông Công phạt tiền về hành vi “Tàng trữ dao trong người nhằm mục đích gây thương tích cho người khác”.
3.3. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, bị cáo B được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và phải chịu 01 tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất của vụ án, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp có tính chất nghiêm trọng, bị cáo là người có nhân thân xấu, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm, nên cần phải xét xử bị cáo bằng án phạt tù nghiêm khắc, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian theo đề nghị của Viện kiểm sát mới đủ điều kiện để giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc xét xử bị cáo B mức án phạt tù phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo B mua ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân, nên xét không cần thiết áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
Về vật chứng và đồ vật liên quan trong vụ án: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 20B2-498.47 là của anh Dương Văn T cho bị cáo B mượn, anh T không biết B sử dụng xe mô tô đi mua ma túy, Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh T là phù hợp; 01 Lá cờ Tổ quốc Việt Nam, không liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội, trả lại cho bị cáo B.
Đối với số ma túy bị thu giữ của B còn lại sau giám định và một số đồ vật liên quan khác đang được bảo quản tại Cơ quan thi hành án dân sự là vật Nhà nước cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo B bị kết án, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Các Điều 106, 136, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/ 2016/ NQ – UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng: Điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Dương Văn B 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/ 01/ 2022.
* Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Dương Văn B.
2. Về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Dương Văn B 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo cho việc thi hành án.
3. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
- Trả lại cho bị cáo Dương Văn B 01 lá cờ Tổ quốc Việt Nam, kích thước (100x70)cm;
- Tịch thu tiêu hủy: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có 0,093 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1; 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong chứa vỏ bao gói mẫu A và túi nilon;
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/4/2022 giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sông Công).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Dương Văn B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo Dương Văn B; vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Dương Văn T.
Báo cho bị cáo B biết, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND TP. Sông Công; - Công an TP. Sông Công; - Bị cáo, Người bị hại; Người LQ; - UBND phường Châu Sơn; (kèm TB Kq XX); - THA h.sự, d.sự; - Lưu: H.sơ, H.sự, VT | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Dương Văn Phong |