- Tranh chấp gì? "ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC"
- Tòa quyết gì? [1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do
- Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 266/QĐ-TA | Tp.Thủ Đức, ngày 14 tháng 05 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Đặng Thụy Phương Thảo.
2. Thư ký phiên họp: Bà Trương Thị Giang – Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 14 tháng 05 năm 2021, tại trụ sở Cơ sở xã hội Thanh thiếu niên 2 thuộc Sở
Lao động thương binh và xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân Thành phố
Thủ Đức tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 262/QĐ-TA ngày 04
tháng 05 năm 2021 đối với:
Họ và tên: N N O; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1981;
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Trình độ văn hoá: 12/12; Nguyên quán:
x; Hộ khẩu thường trú: x, phường Thống Nhất, thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk. Chỗ
ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định.
Nghề nghiệp: Công nhân; Tiền án: 01; Tiền sự: 01; Con ông: Nguyễn Quang
Châu và bà Hoàng Thị Vân (ông O có mặt tại phiên họp).
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động Thương binh vaø Xã hội Thành
phố Thủ Đức: Ông Lý Hồ Nhựt Hoàng – Chức vụ: Chuyên viên
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí
Minh tham gia phiên họp: Ông Võ Cao Hùng – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Vào lúc 16 giờ 40 phút ngày 22/02/2021 công an phường Linh Đông, tiến hành
kiểm tra chất ma túy đối với đương sự N N O. Qua kiểm tra, đương sự Oánh cho kết
quả dương tính với ma túy (MET). Đương sự Oánh có hành vi vi phạm sử dụng trái
phép chất ma túy được quy định tại khoản 1 Điều 21 NĐ 137/2013/NĐ-CP ngày
12/11/2013.
Ngày 22/02/2021 Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Linh Đông, thành phố Thủ
Đức ban hành quyết định số 37/QĐ-UBND-MT đưa ông N N O vào Cơ sở xã hội thanh thiếu niên 2 để quản lý, cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ngày 04/05/2021 Phòng Lao động –Thương Binh và Xã hội Thành phố Thủ Đức
đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đưa ông N N O vào Cơ sở cai nghiện ma túy Phú Đức (trực thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh).
Tại phiên họp: Đại diện của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Thành
phố Thủ Đức vẫn giữ nguyên ý kiến, đề nghị Tòa án xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông N N O trong thời gian từ 21 đến 24 tháng, vì ông O đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và không có nơi cư trú ổn định.
Ông N N O có ý kiến: Ông thừa nhận ông bắt đầu sử dụng ma túy đá từ năm
2017. Bị Công an phường 10, quận 4, thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đưa đi cai nghiện 15 tháng tại cơ sở giáo dục Đức Thanh, tỉnh Bình Phước. Đến giữa tháng 3-2018, được tha trở về phường. Lần gần đây nhất sử dụng ma túy là vào tháng 8-2020. Cách đây 07 ngày tôi có sử dụng ma túy lần cuối bằng hình thức hút. Ngoài địa chỉ Tổ dân phố Tân Hà 3, phường Thống Nhất, thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk, tôi không còn ở địa chỉ nào khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên họp phát
biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Thẩm phán, Thư ký Tòa án: Kể từ khi thụ lý vụ việc cho đến thời điểm mở phiên họp đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Cơ quan đề nghị, người bị đề nghị đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo luật định. Tại phiên họp Chủ tọa đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định. Về nội dung đề nghị chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động Thương binh Xã hội Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc đã được thẩm tra tại
phiên họp; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, có cơ sở xác định:
Ông N N O đã có hành vi vi phạm hành chính về việc sử dụng trái phép chất ma
túy, đã bị Công an phường Linh Đông, Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện vào ngày 22/02/2021. Ngày 26/02/2021 Cơ sở xã hội Thanh thiếu niên 2 thuộc Sở Lao động thương binh và xã hội Thành phố Hồ Chí Minh kết luận ông N N O nghiện Methamphetamine chất dạng Amphetamine (ATS). Ngày 15/03/2021, công an Phường Thống Nhất, thị xã Buôn Hồ xác định ông N N O không thực tế cư ngụ tại Tổ dân phố Tân Hà 3, phường Thống Nhất, thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk, bỏ đi từ năm 2018 cho đến nay. Không rõ đi đâu, làm gì. Ngày 22/02/2021 Công an phường 13, quận 4, Thành
phố Hồ Chí Minh xác định ông N N O không đăng ký tạm trú và không thực tế cư trú tại
địa chỉ số 180/1 Nguyễn Tất Thành, phường 13 quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối
với ông N N O đã được cơ quan chức năng thực hiện đúng theo trình tự thủ tục được
quy định tại Khoản 2 Điều 3, Điều 4, Khoản 1 Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều
12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 và Nghị định số 136/2016/NĐ-CP
ngày 09/9/2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp
xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có cơ sở.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy dẫn đến nghiện ma túy của ông N N O là
một tệ nạn xã hội, không những trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân, gây
thiệt hại vật chất, tinh thần của người thân, mà còn là một hệ lụy mà cộng đồng và xã hội
phải gánh chịu, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm như trộm cắp, cướp
giật, lừa đảo ... Căn cứ vào Phiếu xác minh về việc nghiện ma túy do Cơ sở xã hội
Thanh thiếu niên 2 thuộc Sở Lao động thương binh và xã hội Thành phố Hồ Chí Minh
xác định ông N N O bị nghiện ma túy đá, chất dạng amphetamin, ông O thừa nhận có sử
dụng ma túy từ năm 2017. Vì vậy, cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ
sở cai nghiện bắt buộc đối với ông N N O với thời gian 21 tháng để giúp đương sự cai
nghiện, tái hòa nhập cộng đồng trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về ý kiến của người đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc đối với ông N N O là có căn cứ, đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên:
Căn cứ các điều 95, 96,105, 106 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012;
Căn cứ Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ;
Căn cứ vào Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ về sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy
định chế độ áp dụng, biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc;
Căn cứ Khoản 1 Điều 9, Khoản 2 Điều 20, Điều 22, Điều 23, Điều 30, Điều 31,
Điều 32 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội.
Căn cứ Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng thẩm
phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về
xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
QUYẾT ĐỊNH:
[1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do
Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thành lập đối với ông N N O.
Cơ sở tiếp nhận ban đầu là Cơ sở cai nghiện ma túy Phú Đức (trực thuộc Sở Lao
động – Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ: xã Phú Văn, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước).
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 21(hai mươi mốt) tháng, kể
từ ngày ông N N O bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ
quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan biết.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị: Phòng Lao động – Thương binh
và Xã hội Thành phố Thủ Đức có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định. Ông N N O có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,
kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị [
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Thành phố
Thủ Đức; Công an thành phố Thủ Đức và Cơ sở cai nghiện ma túy Phú Đức (trực thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ: xã Phú Văn, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước).
| Nơi nhận: - TAND TP.Hồ Chí Minh; - VKSND Thành phố Thủ Đức; - Công an Thành phố Thủ Đức; - Phòng LĐ-TB và XH Thành phố Thủ Đức; - Ông N N O; - Cơ sở xã hội thanh thiếu niên 2; - Cơ sở cai nghiện ma túy Phú Đức; - Lưu hồ sơ, Vp. | THẨM PHÁN Đặng Thụy Phương Thảo |