vanban.org

Quyết định 263/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 17/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Xuân M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo: Trần Xuân M 24 (hai bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/3/2023. Đối với vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ma túy niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa , có dấu của Phòng kỹ thuật hình sự kèm chữ ký, chữ viết của Nguyễn Trần Đ, …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Xuân M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
TỈNH THANH HÓA
Bản án số: 263/2023/HS-ST.
Ngày 17/7/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T - TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hoa Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Luận

2. Ông Đỗ Khắc Kiếm

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Tú - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diên Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Lệ Mỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 287/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2023. theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 305/2023/QĐXXST - HS ngày 27 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Xuân M ( Trần Văn M) - Sinh năm 1965; ĐKNKTT và chỗ ở; SN 13 B, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: LĐTD; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Xuân L ( đã chết) và bà Nguyễn Thị V; có vợ Nguyễn Thị M và có 2 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2004, tiền án: Ngày 22/9/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố T xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 06/10/2021, tiền sự: Ngày 31/12/2021, UBND phường N, thành phố T Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường, nhân thân: Năm 1993 Tòa án nhân dân thành phố T xử phạt 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, năm 1997 Công an thành phố T xử phạt hành chính về hành vi “Nghiện chất ma túy”, năm 2010 Công an thành phố T xử phạt hành chính về hành vi “Gây mất trật tự tại khu dân cư”, bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/3/2023 đến ngày 03/4/2023 chuyển tạm giam, hiện tại bị cáo đang tạm giam tại nhà Tạm giữ Công an thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15h00’ ngày 28/3/2023, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố T làm nhiệm vụ tại khu vực chợ đầu mối, phường Đ, thành phố T, phát hiện Trần Xuân M có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma tuý nên yêu cầu kiểm tra. Khi bị kiểm tra, M thả từ tay phải xuống đường, cạnh chân 02 gói giấy màu bạc, kích thước mỗi gói khoảng (0,5x1)cm, bên trong đều là giấy trắng chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ M khai 02 gói giấy mà M vừa thả xuống đường là 02 gói ma tuý loại Heroine, M cất giấu với mục đích sử dụng.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Xuân M ở số nhà 13 Bà , phường N, thành phố T thu giữ 01 gói giấy bạc, kích thước khoảng (0,5x1)cm, bên trong là giấy trắng chứa chất bột màu trắng, cất giấu trong thùng carton phía sau nhà tầng 1.

Về nguồn gốc 03 gói ma tuý trên, M khai nhận; vào khoảng 09h00’ ngày 28/3/2023, tại Công viên thiếu nhi, phường B, thành phố T, M gặp và mua của một người đàn ông tự xưng là T (M không biết tên thật và địa chỉ) 02 gói Heroine với giá 220.000đ. Sau khi mua được ma tuý, Mạnh đem về nhà chia thành 03 gói, 01 gói M mang ra sử dụng một ít, còn lại M gói lại rồi cất vào thùng carton phía sau nhà tầng 1. Đến khoảng 15h00’ cùng ngày, M cầm theo 02 gói ma tuý Heroine đi làm, mục đích khi nào mệt thì mang ra sử dụng, khi đi đến khu vực chợ đầu mối, phường Đ, thành phố T thì bị Công an kiểm tra thu giữ ma tuý ( BL 01-05, 37-40, 79-95).

Kết luận giám định số 1324/KL-KTHS ngày 03/4/2023 (BL 13), Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất bột màu trắng của phong bì mặt trước có ghi “Quả tang Trần Xuân M” niêm phong gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,142g, loại: Heroine. Chất bột màu trắng của phong bì mặt trước có ghi “Khám xét Trần Xuân M” niêm phong gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,127g, loại: Heroine.

Về vật chứng: Toàn bộ số ma túy (Heroine) còn lại sau giám định, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thanh Hóa chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung kết luận của Cơ quan CSĐT Công an thành phố T.

Cáo trạng số: 235/CTr-VKS ngày 21/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T đã truy tố bị cáo Trần Xuân M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.

Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và khung hình phạt như quyết định của bản cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo từ 20 đến 24 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, tịch thu tiêu hủy số ma túy sau giám định, bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, nguyên nhân dẫn đến phạm tội, điều kiện và hoàn cảnh của bị cáo để cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, tại phiên tòa người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại gì, Hội đồng xét xử tiến hành theo thủ tục chung.

[2]. Các căn cứ để định tội đối với bị cáo: Lời khai tại phiên tòa và lời khai của bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra đều thống nhất, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu được và tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 15h00’ ngày 28/03/2023, tại khu vực chợ đầu mối, thuộc phường Đ, thành phố T, Trần Xuân M đã tàng trữ 0,142gHeroine và cất giấu tại nơi ở 0,127g Heroine, mục đích để sử dụng. Tổng khối lượng ma tuý mà Trần Xuân M tàng trữ là 0,269g Heroine. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 của BLHS, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng pháp luật.

Trong vụ án này đối tượng tên là “Tèo” bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo tại khu vực công viên thiếu nhi phường B, thành phố T vào sáng ngày 28/3/2023, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không xác định được người đàn ông đã bán ma túy cho Mạnh. Ngoài lời khai của Trần Xuân M không còn tài liệu nào khác nên không xử lý là có căn cứ.

[3]. Tính chất vụ án: Bị cáo biết rõ ma túy có tác hại nhiều mặt đến đời sống, kinh tế và trong quan hệ xã hội, nó có ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa và thuần phong mỹ tục của dân tộc, đặc biệt ma túy còn là một trong những tác nhân làm lây lan căn bệnh HIV/AIDS. Người nghiện ma túy không những băng hoại về đạo đức, mà còn tổn hại đến sức khỏe và ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình, trong vụ án này bị cáo đã từng bị xét xử về tội phạm ma túy nhưng vẫn phạm tội.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn tạo ra dư luận xấu trong nhân dân. Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[4]. Về trách nhiệm hình sự của bị cáo: Trước khi phạm tội trong vụ án này bị cáo đã bị kết án chưa được xóa án tích lại phạm tội mới do cố ý vì vậy, phạm tội lần này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS là "Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS vìvậy, cần áp dụng Điều 38 của BLHS để cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian, để bị cáo có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục sớm trở thành người lương thiện. Trong vụ án này bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ TNHS là thành khẩn khai báo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.

Đối với ma túy bị cáo tàng trữ để sử dụng có khối lượng ít, do vậy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Về vật chứng của vụ án: Đối với khối lượng ma túy thu được của bị cáo sau giám định là vật được Nhà nước cấm lưu hành cần áp dụng khoản 1, 2 Điều 106 của BLTTHS để tịch thu tiêu hủy.

[6]. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ; Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của BLHS, khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 136 của BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án đối với bị cáo.

- Tuyên bố: Bị cáo Trần Xuân M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo: Trần Xuân M 24 (hai bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/3/2023.

- Đối với vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ma túy niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa , có dấu của Phòng kỹ thuật hình sự kèm chữ ký, chữ viết của Nguyễn Trần Đ, Hoàng Tiến D. Hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T theo biên bản giao nhận vật chứng số 197/2023/THA ngày 22/6/2023.

- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Xuân M phải chịu 200.000 đồng.

Quyết định bản án được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ