vanban.org

Quyết định 26

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đàm Trọng L.

Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đàm Trọng là 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày 16/5/2024 (Ngày Công an xã Phúc Lâm có quyết định tạm giữ Đàm Trọng L theo thủ tục hành chính và giao Lý cho Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 Hà Nội quản lý). Đàm Trọng L có quyền khiếu nại trong … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "QĐ xử lý vi phạm hành chính số 26 ngày 20.6.2024 ĐÀo Trọng L"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đàm Trọng L.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 23 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ ĐỨC - TP. HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 26/2024QĐ-TAMỹ Đức, ngày 20 tháng 6 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm:

1. Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Nguyễn Đình Kiến

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Hữu Vinh

Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, TP. Hà Nội tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 23/2024/QĐ-TA ngày 18 tháng 6 năm 2024, đối với: Đàm Trọng L, sinh năm 1980; Giới tính: Nam. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: xóm 6, thôn P, xã P, huyện Mỹ Đức, TP. Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 01/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Đàm Trọng T và bà Phạm Thị P; có vợ Nguyễn Thị H, sinh năm 1987 và 02 con (lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2007); Tiền sự: Không. Tiền án: + Ngày 21/6/2007, bị Tòa án nhân dân huyện M, TP. Hà Nội xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; + Ngày 16/11/2009, bị Tòa án nhân dân huyện M, TP. Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; + Ngày 31/01/2013, bị Tòa án nhân dân huyện M, TP. Hà Nội xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; + Ngày 12/12/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Ứ, TP. Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; + Ngày 18/01/2017, bị Tòa án nhân dân huyện M, TP. Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tổng hợp hình phạt 09 tháng tù của bản án số 78/2016/HSST ngày 12/12/2016 của Toà án nhân dân huyện Ứ, hình phạt chung phải chấp hành là 24 tháng tù; chấp hành song hình phạt ngày 17/01/2021.

Bị tạm giữ theo thủ tục hành chính từ ngày 16/5/2024; ngày 20/5/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P ban hành Quyết định số 82/QĐ –QLNN, về việc giao cho Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 Hà Nội quản lý đối với Đàm Trọng L trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Đàm Trọng L có đơn xin giải quyết vắng mặt).

Có sự tham gia:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện M do ông Nguyễn Quang Đ – Trưởng phòng, ông Đ ủy quyền cho bà Phạm Thị Thuý H – Phó Trưởng Phòng LĐTB & XH huyện M.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, TP. Hà Nội: bà Lê Thị Trang – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Sau khi xem xét đề nghị của Phòng lao động Thương binh và xã hội huyện Mỹ Đức, TP. Hà Nội và các tài liệu có trong hồ sơ về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đàm Trọng L thể hiện Lý là đối tượng nghiện ma túy loại Hêroin từ năm 2010 đến nay và chưa áp dụng một biện pháp cai nghiện nào, hiện vẫn bị phụ thuộc vào ma tuý với tần suất sử dụng 02 lần/tuần; lần sử dụng gần nhất là ngày 15/5/2024. Kết quả xét nghiệm nước tiểu ngày 16/5/2024 của Lý là dương tính với ma túy. Ngày 20/5/2024, Lý có đơn từ chối, không đăng ký cai nghiện tự nguyện; đồng thời, gia đình Lý cũng không đồng ý quản lý Lý trong thời gian làm thủ tục, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện đối với Lý nên chính quyền địa phương đã phối hợp cùng với các cơ quan chuyên môn tiến hành các qui định của pháp luật để áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Lý.

Ý kiến của cơ quan đề nghị tại phiên họp: Đàm Trọng L là đối tượng nghiện ma tuý từ năm 2010; hiện vẫn còn sử dụng và phụ thuộc vào ma túy; Lý có đơn từ chối không đăng ký cai nghiện tự nguyện. Vì vậy, Phòng Lao động thương binh và Xã hội huyện Mỹ Đức đề nghị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Lý vào Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 Hà Nội để cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 20 đến 24 tháng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đều đảm bảo đúng, đầy đủ về trình tự, thủ tục trong quá trình lập hồ sơ đề nghị cũng như việc Tòa án thụ lý và mở phiên họp. Việc xem xét, quyết định áp dụng xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đàm Trọng L là cần thiết vì Lý là đối tượng nghiện ma túy từ nhiều năm nay, hiện vẫn sử dụng ma túy và bị phụ thuộc vào ma túy; bản thân Lý cũng từ chối đăng ký cai nghiện tự nguyện. Do vậy, Viện kiểm sát nhất trí đề nghị đưa Lý vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian từ 18 đến 24 tháng.

Tại đơn xin giải quyết vắng mặt, Đàm Trọng L đề nghị Toà án giải quyết theo qui định của pháp luật.

XÉT THẤY:

Hồ sơ xem xét đưa đối tượng đi cai nghiện bắt buộc đều đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục, căn cứ đề nghị, cơ quan lập hồ sơ đề nghị và người bị đề nghị.

Về tính chất, hành vi vi phạm của người bị đề nghị đưa đi cai nghiện bắt buộc là nghiêm trọng, ma túy là một tệ nạn xã hội nguy hiểm, hủy hoại sức khỏe của con người, là nguyên nhân làm lây lan, phát sinh nhiều loại tội phạm khác, xâm phạm trật tự, trị an địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân. Bản thân người bị đề nghị cũng thừa nhận mình nghiện ma túy từ nhiều năm nay, hiện vẫn sử dụng ma túy và bị phụ thuộc vào ma túy nên từ chối, không đăng ký cai nghiện tự nguyện và không đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Lần sử dụng ma túy gần nhất là ngày 15/5/2024. Bản thân Đàm Trọng L là đối tượng có 04 tiền án đều chưa được xoá. Vì vậy, việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Lý vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết, phù hợp với quan điểm, đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Mỹ Đức và Viện kiển sát nhân dân huyện Mỹ Đức. Do vậy, cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Đàm Trọng L vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian phù hợp để Lý có thể cai nghiện chất ma túy, trở thành người hữu ích cho gia đình và xã hội, đảm bảo trật tự an toàn xã hội.

Căn cứ :

- Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, khoản 2 Điều 105, Điều 110 của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020; Điều 32 Luật phòng, chống ma túy năm 2021;

- Điều 23, 24, 25 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

- Chương V Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ qui định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đàm Trọng L.

2. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đàm Trọng là 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày 16/5/2024 (Ngày Công an xã Phúc Lâm có quyết định tạm giữ Đàm Trọng L theo thủ tục hành chính và giao Lý cho Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 Hà Nội quản lý).

3. Đàm Trọng L có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được quyết định; Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị đối với quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày công bố quyết định của Tòa án.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

Cỡ chữ