vanban.org

Quyết định 26/QĐ-TA

TAND huyện Bến Lức, tỉnh Long An Tuyên án 31/03/2025 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Trần Ngọc T tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Long An (Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Long An).

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần Ngọc Thạch "cai nghiện bắt buộc""
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Trần Ngọc T tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Long An (Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Long An).
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẾN LỨC
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 26/QĐ-TABến Lức, ngày 31 tháng 3 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Hồ Thị M.

2. Thư ký phiên họp: Ông Trương Văn B.

Ngày 31 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định mở phiên họp số: 25/QĐ-TA ngày 20 tháng 3 năm 2025 đối với:

Họ và tên: Ông Trần Ngọc T, sinh năm 1995.

Số định danh cá nhân: 080095014454.

Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Long An.

Chỗ ở hiện nay: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Long An.

Trình độ học vấn: 6/12.

Nghề nghiệp: Không. Giới tính: Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam.

Con bà Phan Thị N.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Tại quyết định số: 11/QĐ-XPHC ngày 02/12/2024, ông Trần Ngọc T bị Trưởng Công an xã T, huyện B, tỉnh Long An xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

(Vắng mặt tại phiên họp)

Có sự tham gia của:

1. Đại diện Cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Thanh T1 - Phó Trưởng Công an xã T, huyện B, tỉnh Long An.

2. Đại diện Viện kiểm sát: Ông Huỳnh Đỗ Phúc L - Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

NHẬN THẤY:

Ông Trần Ngọc T có hộ khẩu thường trú tại ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Long An là đối tượng nghiện ma túy. Ngày 02/12/2024, ông T bị Công an xã T, huyện B, tỉnh Long An xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Sau đó, Công an xã T lập hồ sơ quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy và Ủy ban nhân dân xã T phối hợp cùng gia đình ông T áp dụng biện pháp cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng đối với ông T.

Ngày 06/02/2025, Công an xã T triệu tập ông T đến làm việc thì ông T khai nhận vào ngày 04/02/2025 ông T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Công an xã T tiến hành Test nhanh, kết quả ông T dương tính với ma túy. Sau đó, Ủy ban nhân dân xã T đã lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện đối với ông T.

Bệnh viện T2 - Sở Y tế tỉnh L có văn bản số 33/PKQ-BVTT-KHTH ngày 12/02/2025 kết luận ông T nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là A.

Ủy ban nhân dân xã T có văn bản số 113/ĐN-CNBB ngày 19/02/2025, về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T.

Công an xã T có văn bản số 19/ĐN-CAX ngày 07/3/2025, về việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Long An đối với ông T.

Tại phiên họp,

- Đại diện Công an xã T, huyện B đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bến Lức xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T với thời gian từ 18 đến 24 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức phát biểu ý kiến: Tòa án nhân dân huyện Bến Lức đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp; hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính được thực hiện đúng quy định pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bến Lức chấp nhận đề nghị của Công an nhân dân thị trấn B áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện ma túy Long An đối với ông Trần Ngọc T với thời gian từ 15 đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

Người bị đề nghị ông T vắng mặt tại phiên họp, không có lý do chính đáng. Căn cứ khoản 2 Điều 20 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.

[2] Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T được lập đảm bảo đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; khoản 57 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020 và Điều 13 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Về thẩm quyền của Tòa án: Công an xã T, huyện B có văn bản số 19/ĐN-CAX ngày 07/3/2025 về việc đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bến Lức xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T. Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Tòa án nhân dân huyện Bến Lức có thẩm quyền thụ lý giải quyết theo thủ tục chung.

Về thời hiệu: Còn thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về đánh giá tính chất, mức độ hành vi vi phạm: Ông T là đối tượng nghiện ma túy, bị Công an xã T, huyện B, tỉnh Long An xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 11/QĐ-XPHC ngày 02/12/2024. Công an xã T lập hồ sơ quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy và Ủy ban nhân dân xã T phối hợp cùng gia đình ông T áp dụng biện pháp cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng đối với ông T. Tuy nhiên, ông T không nhìn nhận hành vi vi phạm pháp luật của mình mà tại Biên bản làm việc ngày 06/02/2025, ông T thừa nhận mình tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 04/02/2025, Ủy ban nhân dân xã T đã lập biên bản vi phạm về quản lý sau cai nghiện ma túy đối với ông T. Bệnh viện T2 – Sở Y tế tỉnh L có văn bản số 33/PKQ-BVTT-KHTH ngày 12/02/2025 kết luận ông T nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là A. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của ông T đã vi phạm khoản 5 Điều 5 Luật phòng chống ma túy; vi phạm khoản 1, 16 Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của ông T không chỉ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của bản thân, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác; ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự công cộng, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần thiết phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T theo đề nghị của Công an xã T, huyện B nhằm giáo dục, giúp đỡ đối tượng sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh thể chất và tinh thần để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Trần Ngọc T tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Long An (Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Long An).

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định.

Người bị đề nghị ông Trần Ngọc T vắng mặt tại phiên họp được quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.

Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã T, huyện B.

Cỡ chữ