- Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lù Văn T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lù Văn T tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lai Châu.
- Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 107 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 11 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC Quy đị…
| TAND THÀNH PHỐ LAI CHÂU TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 26/2025/QĐ - TA | Thành phố Lai Châu, ngày 02 tháng 6 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU, TỈNH LAI CHÂU
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Vân Anh
Thư ký phiên họp: Ông Lý Văn Thắng
Ngày 02 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 26/2025/QĐ - TA ngày 26 tháng 5 năm 2025 đối với:
Họ và tên: Lù Văn T (tên gọi khác: Không có); Giới tính: Nam; Sinh ngày 05/05/1980; Số Căn cước công dân: 0120800xxx53, ngày cấp 17/4/2021, nơi cấp: Cục CSQLHC về TTXH Bộ Công an; Dân tộc: Giáy; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Nơi đăng ký hộ khẩu trường trú: Bản T, phường P, thành phố C, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tiền án, tiền sự: không; Con ông: Lù Văn K và con bà Lý Thị N.
Lù Văn T có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Trịnh Hoan - Trưởng Công an phường P, tỉnh Lai Châu.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu: Ông Tăng Bá Vương - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu.
NHẬN THẤY:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại tòa án và diễn biến phiên họp thì nội dung sự việc được tóm tắt như sau:
Về hành vi vi phạm của người bị đề nghị:
Lù Văn T đang phải chấp hành Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy số 180/QĐ-UBND ngày 26/02/2025 của UBND phường P, thành phố Lai Châu, theo quyết định thời gian quản lý của T là 01 năm. Vào trưa ngày 05/5/2025 T sử dụng ma túy loại Heroine bằng hình thức hít tại nhà của T. Ngày 07/5/2025 Lù Văn T bị Công an phường P, tỉnh Lai Châu yêu cầu test ma túy, cho kết quả dương tính, Công an phường P đã lập biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực phòng chống tệ nạn xã hội đối với T và thông báo cho UBND phường biết về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T. Ngày 09/5/2025 Trung tâm y tế thành phố C trả lời kết quả xác định Lù Văn T là người nghiện ma túy (heroine). Cũng cùng ngày UBND phường P đã ban hành quyết định dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với T. Công an phường P thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy cho T và tuyên truyền, giải thích quyền, nghĩa vụ trách nhiệm đăng ký cai nghiện tự nguyện của người nghiện ma túy cho T theo quy định tại Điều 28 Nghị Định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Đến ngày 19/5/2025 sau khi xác định T không đăng ký cai nghiện tự nguyện theo quy định, Công an phường P đã thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lù Văn T, đồng thời lạp biên bản xác nhận về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với gia đình của T. Ngày 23/5/2025, Công an phường P, tỉnh Lai Châu đã ban hành văn bản số 154/ĐN-CAP đề nghị xem xét hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lù Văn T.
Tại phiên họp Đại diện cơ quan đề nghị có ý kiến: Giữ nguyên đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lù Văn T tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lai Châu.
Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Lù Văn T tại phiên họp thừa nhận: Bản thân nghiện ma túy từ năm 2016, năm 2017 đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (thời gian 12 tháng) và hiện đang chấp hành Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy của UBND phường P, thành phố Lai Châu, nhưng T đã sử dụng trái phép chất ma túy (heroine) bằng hình thức hít vào ngày 05/5/2025. Sau khi được Trung tâm y tế thành phố C xác nhận T nghiện ma túy (loại heroine) và được Công an phường P tuyên truyền, vận động đăng ký cai nghiện tự nguyện T không đăng ký hình thức cai nghiện tự nguyện nào. T không có ý kiến hay khiếu nại gì về việc Công an phường P thông báo lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, việc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lù Văn T đảm bảo đúng của quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính, Luật phòng chống ma túy và Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Nghị định 116/2021/NĐ – CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ, Thông tư 03/2025/TTLT— BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025. Hồ sơ đảm bảo, đầy đủ. Phiên họp diễn ra đúng quy trình và tuân theo pháp luật. Đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Công an phường P, tỉnh Lai Châu và xem xét đưa người bị đề nghị vào Cơ sở cai nghiện tỉnh Lai Châu với thời gian từ 14 đến 16 tháng.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, các ý kiến của cơ quan đề nghị, người bị đề nghị, kiểm sát viên,
XÉT THẤY:
. Về trình tự, thủ tục: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Công an phường P, tỉnh Lai Châu đối với người bị đề nghị là Lù Văn T đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 7, 8 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025, Điều 40, 41, 44 của Nghị định 116/2021/NĐ – CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ, quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
. Về hành vi vi phạm: Tại phiên họp Lù Văn T thừa nhận hành vi vi phạm của mình như bản tường trình ngày 07/5/2025 và biên bản lấy lời khai ngày 19/5/2025, việc T thừa nhận bản thân nghiện ma túy phù hợp với Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 09/5/2025 của Trung tâm y tế thành phố C đối với Lù Văn T. Tuy nhiên, sau khi được Công an phường P giải thích về quyền, nghĩa vụ trách nhiệm đăng ký cai nghiện tự nguyện T lại không đăng ký hình thức cai nghiện tự nguyện nào, hành vi này là vi phạm khoản 1 Điều 28 của Nghị định 116/2021/NĐ – CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Nên ngày 19/5/2025 Công an phường P lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện đối với T là đảm bảo theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ – CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.
Lù Văn T là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hành chính. Nên ngày 19/5/2025 Công an phường P thông báo lập hồ sơ đề nghị xem xét đưa T vào cơ cai nghiện bắt buộc là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 32 của Luật phòng chống ma túy năm 2021, điều luật quy định:
“Điều 32. Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1. Không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện;”
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi vi phạm, Lù Văn T thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi bổ sung năm 2020.
Tình tiết tặng nặng: không có
Xét thấy, với tình trạng hiện nay của người bị đề nghị Lù Văn T việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như đề nghị của Công an phường P, tỉnh Lai Châu và quan điểm của đại diện viện kiểm sát tại phiên họp là phù hợp.
Vì vậy, để giúp đỡ, giáo dục Lù Văn T có điều kiện cai nghiện thành công, rèn luyện để trở thành công dân khỏe mạnh, trở về tái hòa nhập cộng đồng tốt hơn dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc:
Căn cứ Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, 105, 107, 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi bổ sung một số điều năm 2020;
Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy năm 2021;
Căn cứ Điều 3, 5, 23, 24, 25, 31 và 32 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
Căn cứ các Điều 40, 41, 44 của Nghị định 116/2021/NĐ – CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.
Căn cứ Điều 7, 8, 11 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lù Văn T tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lai Châu.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 14 (Mười bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
3. Lù Văn T có quyền khiếu nại, Công an phường P, tỉnh Lai Châu có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Người bị đề nghị, Công an phường P, tỉnh Lai Châu thi hành quyết định này.
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - VKSND TP Lai Châu; - Người bị đề nghị; - Công an phường P; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lai Châu; - Lưu hồ sơ. | Hoàng Thị Vân Anh |