vanban.org

Quyết định 26/2020/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự giữa chị Đinh Thị T và anh Nguyễn Đăng N. 2.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị T và anh Nguyễn Đăng N thuận tình ly hôn vì tình cảm vợ chồng thực sự không còn nữa, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Về con chung: Chị Đinh Thị T và anh Nguyễn Đăng N thừa nhận vợ chồng có hai đứa c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Quyết định thuận tình ly hôn Đinh Thị T - Nguyễn Đăng N"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thoả thuận của các đương sự giữa chị Đinh Thị T và anh Nguyễn Đăng N. 2.
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUYÊN HOÁ
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 26/2020/QĐST - HNGĐTuyên Hóa, ngày 15 tháng 7 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ vào hồ sơ vụ án thụ lý số 48/2020/TLST - HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2020, giữa: Nguyên đơn: Chị Đinh Thị T, sinh năm: 1977. Địa chỉ: Thôn S, xã C, huyện H, tỉnh Quảng Bình. Nơi làm việc: Trường tiểu học C, huyện H, tỉnh Quảng Bình. Bị đơn: Anh Nguyễn Đăng N, sinh năm: 1980. Địa chỉ: Thôn S, xã C, huyện H, tỉnh Quảng Bình. Nơi làm việc: Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình. Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 07/7/2020.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 07/7/2020 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự giữa chị Đinh Thị T và anh Nguyễn Đăng N. 2. Sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị T và anh Nguyễn Đăng N thuận tình ly hôn vì tình cảm vợ chồng thực sự không còn nữa, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

- Về con chung: Chị Đinh Thị T và anh Nguyễn Đăng N thừa nhận vợ chồng có hai đứa con chung tên là Nguyễn Thị Phương H, sinh ngày: 12/04/2006 và Nguyễn Quỳnh A, sinh ngày: 14/02/2016. Hai bên nhất trí tự nguyện thỏa thuận giao hai con Nguyễn Thị Phương H và Nguyễn Quỳnh A cho chị Đinh Thị T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Đăng N có trách nhiệm và nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con Nguyễn Quỳnh A mỗi tháng 1.000.000đ (một triệu đồng) cho đến khi con đủ 18 tuổi. Thời gian tính từ tháng 8/2020. Chị Đinh Thị T không được ngăn cản việc đi lại chăm sóc con chung của anh Nguyễn Đăng N, khi cần thiết vì lợi ích của con thì anh N có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị Đinh Thị T và anh Nguyễn Đăng N tự nguyện thỏa thuận tự phân chia nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về công nợ chung: Chị Đinh Thị T và anh Nguyễn Đăng N thừa nhận vợ chồng không có công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Chị Đinh Thị T đã nộp 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số 0007912 ngày 16/6/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa nay thuận chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 150.000đ và sẽ được nhận lại 150.000đ số tiền án phí đã nộp. Án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Đăng N phải chịu 150.000đ, chị Đinh Thị T và anh Nguyễn Đăng N tự nguyện thỏa thuận sẽ khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị T được nhận lại. Như vậy hai bên đã nộp đủ các khoản án phí. 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ