- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Bà O tuyên bố mất tích đối với ông T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của bà Tăng Thị Lệ O.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 26/2020/QĐST-DS | B, ngày 30 tháng 7 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B – TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hoàng Phương
Thư ký phiên họp: ông Nguyễn Hoàng Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên họp: Ông Mai Văn Thông – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 779/2019/TLST-DS ngày 11 tháng 12 năm 2019, theo quyết định mở phiên họp số 701/2020/QĐST-DS ngày 20 tháng 7 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Tăng Thị Lệ O, sinh năm 1972;
Địa chỉ: 21/14G, tổ 6, khu phố 1, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Bà O có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Bà Tăng Thị Lệ O và ông Lê Văn T là vợ chồng, có tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 94 ngày 28/6/2010. Trong quá trình chung sống, bà O và ông T có 01 con chung là cháu Lê Tăng Q, sinh ngày 07/02/2010. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì trầm trọng. Tuy nhiên, không biết vì lý do gì, từ tháng 7 năm 2010, ông T đã bỏ nhà đi đến nay không về. Bà O đã tìm kiếm nhiều nơi, bằng nhiều biện pháp nhưng vẫn không có tin tức gì của ông T.
Vì vậy, bà O làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố B tuyên bố một người mất tích đối với ông Lê Văn T, sinh năm 1971; Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: 21/14G, tổ 6, khu phố 1, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Bà O không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích là ông Lê Văn T.
Lý do, mục đích yêu cầu để bà O làm thủ tục ly hôn với ông T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Ngày 20/9/2019, bà Tăng Thị Lệ O, sinh năm 1972; Địa chỉ: 21/14G, tổ 6, khu phố 1, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với ông Lê Văn T, sinh năm 1971; Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: 21/14G, tổ 6, khu phố 1, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, việc dân sự trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố B.
Bà Tăng Thị Lệ O và ông Lê Văn T là vợ chồng, có tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 94 ngày 28/6/2010. Trong quá trình chung sống, bà O và ông T có 01 con chung là cháu Lê Tăng Q, sinh ngày 07/02/2010. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì trầm trọng. Tuy nhiên, không biết vì lý do gì, từ tháng 7 năm 2010, ông T đã bỏ nhà đi đến nay không về. Bà O đã tìm kiếm nhiều nơi, bằng nhiều biện pháp nhưng vẫn không có tin tức gì của ông T.
Ngày 27/12/2019, Tòa án nhân dân thành phố B đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với ông Lê Văn T và đăng trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án. Bà Tăng Thị Lệ O đã đăng thông báo trên Báo Lao động trong ba số liên tiếp vào các ngày 16, 17 và 18/3/2019 và phát sóng trên Đài Truyền hình Việt Nam ba lần trong ba ngày liên tiếp trong các ngày 23, 24 và 25/3/2019.
Tuy nhiên, đã hết thời hạn 04 tháng nhưng ông Lê Văn T không có liên hệ với Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai để giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích. Đồng thời, cũng không ai thông báo cho Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Ủy ban nhân dân phường B hoặc bà Tăng Thị Lệ O về tin tức của ông Lê Văn T.
Vì vậy, yêu cầu của bà Tăng Thị Lệ O về việc tuyên bố một người mất tích đối với ông Lê Văn T, sinh năm 1971; Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: 21/14G, tổ 6, khu phố 1, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 388 và 389 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Các đương sự không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích là ông Lê Văn T nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B: Việc dân sự giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích của bà Tăng Thị Lệ O đối với ông Lê Văn T từ khi thụ lý đến phiên họp đều đảm bảo đúng quy định tại Điều 362, 363, 365, 387 Bộ luật tố tụng dân sự và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp nghiên cứu đúng thời gian quy định.
Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ xác định: Ông Lê Văn T, sinh năm 1971; Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: 21/14G, tổ 6, khu phố 1, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đã biệt tích từ năm 2010 đến nay, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực ông T còn sống hay đã chết. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 388 và 389 Bộ luật tố tụng Dân sự đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của bà O.
Các đương sự không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích là ông Lê Văn T nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Xét thấy, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố B phát biểu tại phiên họp phù hợp với nhận định nêu trên, nên chấp nhận.
Về lệ phí: Bà Tăng Thị Lệ O phải nộp 300.000đồng;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 362, 363, 365, 387, 388 và 389 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của bà Tăng Thị Lệ O.
Tuyên bố ông Lê Văn T, sinh năm 1971; Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: 21/14G, tổ 6, khu phố 1, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai mất tích.
2. Về áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích: không đặt ra xem xét, giải quyết.
3. Về lệ phí việc dân sự sơ thẩm: Bà Tăng Thị Lệ O phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, theo biên lai thu số 0001388 ngày 09/12/2019.
4. Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (Mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND TP. B; - Chi cục THADS TP. B; - Người yêu cầu; Đương sự; - Lưu VT, Hồ sơ việc dân sự | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Hoàng Phương |