vanban.org

Quyết định 26/2019/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND TX. An Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 26/07/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ A
TỈNH BÌNH ĐỊNH
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 26/2019/QĐST-DSA, ngày 26 tháng 7 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Đảm Thư ký phiên họp: Ông Mang Đức Kham – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã A. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hồng Loan - Kiểm sát viên. Ngày 26 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 12/2019/TLST-DS ngày 21 tháng 02 năm 2019 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 10/2019/QĐST-DS ngày 17 tháng 7 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Lê Thị T, sinh năm: 1973 (Có mặt) Địa chỉ: Đường N, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn P, sinh năm: 1974 (Vắng mặt) Nơi cư trú cuối cùng: Đường N, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 20/11/2018, Biên bản ghi lời khai ngày 06/3/2019 và tại phiên họp, người yêu cầu Lê Thị T trình bày:

Chị là vợ của anh Trần Văn P. Chị và anh P có đăng ký kết hôn vào năm 1994 tại UBND thị trấn Đ, huyện A (nay là phường Đ, thị xã A). Sau khi kết hôn, chị và anh P sống tại nhà cha mẹ chồng tại đường N, phường Đ, thị xã A. Hiện nay chị và anh P không còn sống chung đã hơn 05 năm. Anh P bỏ nhà đi một thời gian rồi trở về, sau đó lại đi tiếp đến nay không thấy trở về nữa. Lần gần đây nhất anh P trở về là tháng 01/2017. Kể từ đó anh P không trở về nữa. Anh P đi đâu, làm gì chị không biết. Năm 2018, chị có đơn yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh P. Sau đó chị đã đăng thông báo tìm kiếm theo quy định của pháp luật và nộp lại các tài liệu, chứng cứ cho tòa án. Đến thời điểm hiện tại chị cũng không có bất kỳ thông tin gì về anh P. Chị yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã A tuyên bố anh Trần Văn P mất tích. Ngoài ra chị không có yêu cầu nào khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn P vắng mặt nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký phiên họp và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến thời điểm mở phiên họp là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị Lê Thị T về việc tuyên bố anh Trần Văn P mất tích vì anh Trần Văn P vắng mặt tại địa phương từ tháng 01/2017 đến nay và không có tin tức gì đã hơn hai năm. Chị Lê Thị T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã A nhận định:

Về tố tụng

Chị Lê Thị T yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với anh Trần Văn P có nơi cư trú cuối cùng tại đường N, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định. Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã A.

Mặc dù anh P đã được Tòa án thông báo tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng tại thời điểm mở phiên họp, anh P vẫn vắng mặt. Do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã A vẫn tiến hành phiên họp.

Về nội dung

Yêu cầu tuyên bố một người mất tích

Anh Trần Văn P vắng mặt tại nơi cư trú từ tháng 01/2017 cho đến nay, bị Tòa án nhân dân thị xã A tuyên bố vắng mặt tại nơi cư trú theo Quyết định số 58/2018/QĐST-VDS ngày 24/7/2018. Hiện tại anh P đã biệt tích trên hai năm liền, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc anh P còn sống hay đã chết. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự, chị Lê Thị T yêu cầu tuyên bố anh Trần Văn P mất tích là có căn cứ chấp nhận.

Về lệ phí

Chị Lê Thị T là người yêu cầu phải chịu 300.000đ lệ phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Ý kiến của Kiểm sát viên: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 3 Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 388, Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị Lê Thị T về việc tuyên bố anh Trần Văn P, sinh năm: 1974, nơi cư trú cuối cùng: đường N, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định mất tích. 2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Lê Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự, được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng lệ phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0008931 ngày 21/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A. 3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Chị Lê Thị T có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Anh Trần Văn P vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân thị xã A có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ