- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết kinh doanh, thương mại của Trọng tài nước ngoài — án kinh doanh thương mại — "phán quyết tt"
- Tòa quyết gì? I. Không hủy phán quyết trọng tài vụ tranh chấp số 63/22 HCM lập ngày 01/6/2023 của Hội đồng trọng tài thuộc Trung tâm Trọng tài Vvề việc giải quyết vụ tranh chấp giữa:
- Căn cứ chính? Điều 68 Luật Trọng tài thương mại
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 2596/2023/QĐ-PQTT Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 12 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với Hội đồng xét đơn yêu cầu gồm có:
Thẩm phán, Chủ tọa phiên họp: Bà Ngô Thị Phúc Hảo
Các Thẩm phán:
Ông Ngô Thanh Nhàn
Bà Mai Thị Thanh Tú
- Thư ký phiên họp:
Bà Huỳnh Thúy Ngân
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Huỳnh Thị Kim Tuyến - Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự thụ lý số 121/KDTM-ST ngày 24 tháng 10 năm 2023 về yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo Quyết định mở phiên họp số 5174/2023/QĐ-MPH ngày 06 tháng 11 năm 2023, giữa:
Người yêu cầu: Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển C;
Địa chỉ: Tầng 1, Tòa nhà N02-T1, Khu Đ, phố ĐN, phường XT, quận BT, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Minh T.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Đức M (văn bản ủy quyền số 02/2023/UQ) (có mặt).
Người có liên quan:
1. Bà Hoàng Lan H;
Địa chỉ: 18A/9 HTK, khu phố H, phường TM, Quận M2, Thành Phố Hồ Chí Minh. (Là Nguyên đơn trong phán quyết trọng tài).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng T1, sinh năm 1984, ông Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1986 và ông Đào Xuân H, sinh năm 1983 (giấy ủy quyền số 009920 ngày 02/12/2023) (có mặt).
2. Công ty TNHH Đầu tư Bất động sản TB
Địa chỉ: 32 HB, Phường M5, quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh. (Là Bị đơn 1 trong phán quyết trọng tài) (vắng mặt).
3. Ông Đỗ Việt T2
Địa chỉ: Căn A14 Khu biệt thự GH, số 7/280 M, phường HB, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Là Bị đơn 3 trong phán quyết trọng tài) (vắng mặt).
Sau khi xem xét Đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài ngày 29 tháng 6 năm 2023 của Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển C đối với phán quyết trọng tài vụ tranh chấp số 63/22 HCM ngày 01 tháng 6 năm 2023 của Hội đồng trọng tài thuộc Trung tâm Trọng tài V (gọi tắt là V) giải quyết vụ tranh chấp số 63/22 HCM giữa Nguyên đơn – bà Hoàng Lan H và các Bị đơn: Công ty TNHH Đầu tư Bất động sản TB; Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển C và ông Đỗ Việt T2.
Nội dung tranh chấp: Ngày 7/9/2015, Công ty TNHH Đầu tư Bất động sản TB (gọi tắt: Công ty BĐS TB) và bà Hoàng Lan H ký kết Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư số 16/HĐMB/2015 để mua căn hộ mã số 00-09-A6 tại dự án “Tổ hợp nhà ở - nhà xã hội TB”
Cùng ngày 7/9/2015, Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển C (gọi tắt: Công ty C) và bà Hoàng Lan H ký kết Hợp đồng thi công hoàn thiện nội thất số 16A/HĐ/2015 để thực hiện thi công nội thất hoàn thiện cho căn hộ nêu trên.
Ngày 04/6/2017, Công ty BĐS TB (Chủ đầu tư dự án), Công ty C (nhà thầu thi công nội thất) và bà Hoàng Lan H ký kết thêm Phụ lục Hợp đồng. Theo đó thời hạn bàn giao nhà là ngày 30/01/2017.
Nguyên đơn đã thanh toán đầy đủ theo đúng tiến độ nhưng các bị đơn vẫn chưa hoàn thành thủ tục nghiệm thu để bàn giao nhà nên bà Hoàng Lan H đã khởi kiện tại Trung tâm Trọng tài V (V) với nội dung: yêu cầu 03 Bị đơn là Công ty TB, Công ty C, cá nhân ông Đỗ Việt T2 (cá nhân bảo lãnh) cùng liên đới bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng theo nội dung Phụ lục hợp đồng đã ký ngày 04/6/2017.
Nội dung phán quyết trọng tài:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Lan H, buộc Công ty TNHH Đầu tư Bất động sản TB và Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển C có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho bà Hoàng Lan H các khoản tiền sau:
1.1 Tiền bồi thường thiệt hại là 45.000.000 VND (Bằng chữ: Bốn mươi lăm triệu đồng Việt Nam);
1.2 Tiền phạt vi phạm là 67.447.005 VND (Bằng chữ: sáu mươi bảy triệu bốn trăm bốn bảy ngàn không trăm linh năm đồng Việt Nam);
1.3 Toàn bộ số phí Trọng tài là 12.099.000 VND (Bằng chữ:Mười hai triệu không trăm chín mươi chín nghìn đồng Việt Nam).
2. Bị đơn 1 và Bị đơn 2 có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Nguyên đơn toàn bộ các khoản tiền nêu tại Mục 1 Phần IV Phán quyết này trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày Phán quyết Trọng tài có hiệu lực.
3. Hết thời hạn 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày Phán quyết Trọng tài có hiệu lực, trong trường hợp Bị đơn 1 và Bị đơn 2 không thanh toán, hoặc không thanh toán đầy đủ số tiền nêu tại Mục 1.1, 1.2 Phần IV Phán quyết này thì Bị đơn 3 phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, trả thay cho Bị đơn 1 và Bị đơn 2 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số tiền 124.546.005 VND. Trong trường hợp chậm thanh toán, Bị đơn 3 còn phải trả thêm tiền lãi theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 với mức lãi suất là 10%/năm, tương ứng với số tiền chậm trả và thời gian chậm trả.
4. Hết thời hạn 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày Phán quyết Trọng tài có hiệu lực, trong trường hợp Bị đơn 1 và Bị đơn 2 không thanh toán, hoặc không thanh toán đầy đủ số tiền nêu tại Mục 1.3 Phần IV Phán quyết này thì Bị đơn 1 và Bị đơn 2 còn phải thanh toán lãi chậm trả cho Nguyên đơn theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 với mức lãi suất 10%/năm, tương ứng với số tiền chậm trả và thời gian chậm trả.
Nội dung yêu cầu và căn cứ yêu cầu hủy phán quyết trọng tài: Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển C yêu cầu hủy phán quyết trọng tài vụ tranh chấp số 63/22 HCM lập ngày 01/6/2023 của Hội đồng trọng tài thuộc V với lý do: Địa chỉ của Công ty C được ghi rõ trong Giấy đăng ký kinh doanh là: Tầng 1, tòa nhà N02-T1, khu Đ, phố ĐN, Phường XT, Quận BT, TP. Hà Nội, Việt Nam. Tuy nhiên trong quá trình tố tụng trọng tài, V đã không tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và phán quyết trọng tài cho Công ty C (Bị đơn 2). Công ty C không biết vụ tranh chấp đã diễn ra và đã có Phán quyết trọng tài. Ngày 22/6/2023, Công ty C cũng đã có văn bản gửi đến V đề nghị cung cấp địa chỉ mà V đã tống đạt cho Công ty C là địa chỉ nào. V đã xác nhận không tống đạt đến đúng địa chỉ trụ sở của Công ty C. Do đó V đã vi phạm Khoản 2 Điều 12 Luật Trọng tài Thương mại quy định: “2. Các thông báo, tài liệu mà Trung tâm trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài gửi cho các bên được gửi đến địa chỉ của các bên hoặc gửi cho đại diện của các bên theo đúng địa chỉ do các bên thông báo;”
Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại, Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển C yêu cầu Tòa án tuyên hủy Phán quyết Trọng tài Vụ tranh chấp số 63/22 HCM.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên họp: Yêu cầu hủy phán quyết trọng vụ tranh chấp số 63/22 HCM lập ngày 01/6/2023 của Hội đồng trọng tài thuộc Trung tâm Trọng tài Vvới lý do thủ tục tố tụng trọng tài đã trái với qui định tại Khoản 2 Điều 12 Luật Trọng tài Thương mại làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, thuộc vào một trong các trường hợp phán quyết trọng tài bị hủy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 68 Luật TTTM nêu trong đơn yêu cầu của Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển C và lời trình bày tại phiên họp của người yêu cầu là có cơ sở. Do đó, đề nghị Hội đồng xét đơn yêu cầu áp dụng điểm b khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại, chấp nhận yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển C;
XÉT THẤY:
1. Về thẩm quyền giải quyết:
Đây là việc dân sự về yêu cầu kinh doanh thương mại liên quan đến việc trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết tranh chấp, nơi Hội đồng trọng tài tuyên phán quyết trọng tài là Thành phố Hồ Chí Minh, do đó căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 31, điểm b khoản 1 Điều 37, điểm o khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, và Khoản 2, Khoản 3 Điều 7 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, yêu cầu này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Về thời hiệu nộp đơn yêu cầu:
Ngày 01/6/2023 là ngày ban hành phán quyết trọng tài vụ kiện số 63/22 HCM, đến ngày 29/6/2023 người yêu cầu là Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển C đã nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh hủy phán quyết trọng tài là còn trong thời hạn (30 ngày kể từ ngày nhận được phán quyết trọng tài) theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 Luật Trọng tài Thương mại.
3. Về nội dung yêu cầu:
Xét lý do trong đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài đề ngày 29/6/2023 của Người yêu cầu là Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển C, căn cứ các tài liệu chứng cứ đính kèm tại đơn yêu cầu và lời trình bày của các bên tại phiên họp, Hội đồng xét đơn nhận thấy:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 25/5/2022 của vụ tranh chấp số 63/22 HCM bà Hoàng Lan H cung cấp địa chỉ liên hệ của Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển C là 75/3 CL, Phường M5, quận TB, Thành Phố Hồ Chí Minh. Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (mã số doanh nghiệp 0101431725) của Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển C đăng ký thay đổi lần thứ 8 thể hiện địa chỉ liên hệ của người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Minh T ở địa chỉ 75/3 CL, Phường M5, quận TB, Thành Phố Hồ Chí Minh.
Quá trình tố tụng tại trọng tài để giải quyết các vụ tranh chấp đối với khách hàng là người mua căn hộ tại dự án tổ hợp nhà ở xã hội và nhà ở thương mại tại số 32 HB, Phường M5, Quận TB, Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển C cung cấp địa chỉ nhận văn thư tại 75/3 CL, Phường M5, quận TB, Thành Phố Hồ Chí Minh, Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển C đều nhận được các văn bản do V gửi tới tại địa chỉ liên hệ này.
Đồng thời Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển C đã ủy quyền cho ông Nguyễn Đức Mlàm người đại diện tham gia tố tụng tại Trung tâm trọng tài V(V) để giải quyết các vụ tranh chấp đối với khách hàng là người mua căn hộ tại dự án tổ hợp nhà ở xã hội và nhà ở thương mại tại số 32 HB, Phường M5, Quận TB. Ông Nguyễn Đức M cũng đồng thời là người đại diện theo pháp luật của bị đơn 1 – Công ty TNHH Đầu tư Bất động sản TB.
Trong vụ việc yêu cầu hủy phán quyết trọng tài số 63/22 này, Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển C cũng tiếp tục ủy quyền cho ông Nguyễn Đức M tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh, thực hiện quyền và nghĩa vụ của Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển C.
Do vậy việc Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển C cho rằng V không tống đạt tại địa chỉ trụ sở của Công ty ở Hà Nội nên Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển C không biết và không thể biết thủ tục tố tụng trọng tài là không chính xác.
Từ những phân tích trên, nhận thấy phán quyết trọng tài vụ tranh chấp số 63/22 HCM lập ngày 01/6/2023 của Hội đồng trọng tài thuộc Trung tâm Trọng tài Vkhi tiến hành thủ tục tố tụng trọng tài đã thực hiện đúng quy định của Luật Trọng tài Thương mại. Nên không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên họp về việc hủy phán quyết trọng tài vụ tranh chấp số 63/22 HCM lập ngày 01/6/2023 của Hội đồng trọng tài thuộc Trung tâm Trọng tài V.
Vì các lẽ trên,
Áp dụng các Điều 414, Điều 415 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 71 và Điều 72 của Luật Trọng tài thương mại năm 2010;
QUYẾT ĐỊNH:
I. Không hủy phán quyết trọng tài vụ tranh chấp số 63/22 HCM lập ngày 01/6/2023 của Hội đồng trọng tài thuộc Trung tâm Trọng tài Vvề việc giải quyết vụ tranh chấp giữa:
Nguyên đơn: Bà Hoàng Lan H
Địa chỉ: 18A/9 HTK, khu phố H, phường Trưng Mỹ Tây, Quận M2, Thành Phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn:
1. Công ty TNHH Đầu tư Bất động sản TB
Địa chỉ: 32 HB, Phường M5, quận TB, Tp Hồ Chí Minh.
2. Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển C
Địa chỉ: Tầng 1, Tòa nhà N02, Khu Đ, phố ĐN, phường XT, quận BT, Thành phố Hà Nội.
3. Ông Đỗ Việt T2
Địa chỉ: Căn A14 Khu biệt thự GH số 7/280 M, phường HB, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
II. Quyết định này là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký, các bên, Hội đồng trọng tài không có quyền khiếu nại, kháng cáo, Viện kiểm sát không có quyền kháng nghị.
| Nơi nhận: - VKSND TP.HCM; - V; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG PHIÊN HỌP THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Ngô Thị Phúc Hảo |