vanban.org

Quyết định 253/2024/QĐ-TA

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 12/04/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Trương Minh T tại Cơ sở cai nghiện ma túy Phú Đức.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày 21/01/2024. Trong thời gian chấp hành cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan biết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Trương Minh T tại Cơ sở cai nghiện ma túy Phú Đức.
  • Căn cứ chính? Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 10 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 253/2024/QĐ-TAThành phố Thủ Đức, ngày 12 tháng 4 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Quốc Lưu

2. Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Ngọc Hoa.

Ngày 12 tháng 4 năm 2024, tại điểm cầu Trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần: Cơ sở Cai nghiện ma túy Thanh Thiếu Niên 2 – Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức mở phiên họp trực tuyến công khai để giải quyết hồ sơ thụ lý số 229/2024/TLST-HC ngày 01/4/2024 về việc “Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” theo Quyết định mở phiên họp số 187/2024/QĐ-TA ngày 03/4/2024 đối với:

Họ và tên: Trương Minh T, Giới tính: Nam.

Sinh năm: 1995.

Căn cước công dân số: B

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: 6/12.

Quê quán: Thành phố Hồ Chí Minh.

Hộ khẩu thường trú: số 34/5 đường L, khu phố X, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định.

Nghề nghiệp: không.

Tiền án: không; tiền sự: không.

Con ông: Trương Minh T1 (chết) và bà: Nguyễn Thị Thùy T2

(Ông Trương Minh T có mặt tại phiên họp).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố Thủ Đức: Ông Lý Hồ Nhựt Hoàng, chức vụ: Chuyên viên.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Võ Cao Hùng – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Vào ngày 21/01/2024, Công an phường Tam Bình, thành phố Thủ Đức lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông Trương Minh T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Phiếu trả lời kết quả ngày 21/01/2024 của Trạm y tế phường Tam Bình kết luận ông Trương Minh T dương tính chất ma túy.

Ông Trương Minh T không tự giác khai báo tình trạng nghiện và không thực hiện việc đăng ký cai nghiện tự nguyện nên ngày 25/01/2024, Ủy ban nhân phường Tam Bình đã lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện số 50/BB-VPHC để làm căn cứ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Trương Minh T.

Về tình trạng cư trú xác định hiện nay ông Trương Minh T không có nơi cư trú ổn định.

Ngày 27/3/2024, Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố Thủ Đức có văn số 229/ĐN-CNBB đề nghị Tòa án xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đưa ông Trương Minh T vào Cơ sở cai nghiện ma túy Phú Đức, thời gian cai nghiện bắt buộc từ 15 tháng đến 24 tháng.

Tại phiên họp hôm nay:

Đại diện của Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố Thủ Đức vẫn giữ nguyên ý kiến, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Trương Minh T, thời gian cai nghiện bắt buộc từ 15 tháng đến 24 tháng.

Người bị đề nghị ông Trương Minh T có ý kiến: thừa nhận hành vi vi phạm hành chính sử dụng trái phép chất ma túy, đồng ý với đề nghị của Phòng Lao động Thương binh và xã hội thành phố Thủ Đức.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Tòa án, Thẩm phán được phân công giải quyết việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Trương Minh T đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. Người bị áp dụng thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Đề nghị của Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố Thủ Đức là có cơ sở, đúng pháp luật.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc đã được thẩm tra tại phiên họp; và trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên, có cơ sở xác định:

Ông Trương Minh T đã có hành vi vi phạm hành chính do sử dụng trái phép chất ma túy, đã bị Công an phường Tam Bình, thành phố Thủ Đức phát hiện lập biên bản vào ngày 21/01/2024.

Ngày 25/01/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Tam Bình, thành phố Thủ Đức ban hành Quyết định số 25/QĐ-UBND đưa ông Trương Minh T vào Cơ sở cai nghiện ma túy Thanh Thiếu Niên 2 để xử lý theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào biên bản xét nghiệm chất ma túy của Trung tâm y tế phường Tam Bình và kết quả xét nghiệm ma túy của Cơ sở cai nghiện ma túy Thanh Thiếu Niên 2 xác định ông Trương Minh T dương tính ma túy.

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Trương Minh T đã được cơ quan chức năng thực hiện đúng theo trình tự thủ tục được quy định tại Điều 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 được sửa đổi, bổ sung năm 2020; Điều 40, Điều 41, Điều 42, Điều 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Tại phiên họp, người bị đề nghị ông Trương Minh T thừa nhận hành vi sử dụng chất ma túy, Tòa án xét thấy lời khai của ông Trương Minh T phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ, khi bị Công an phát hiện lập biên bản vi phạm ông Trương Minh T nhận lỗi vi phạm. Tại Bản tường trình; Biên bản ghi lời khai, ông Trương Minh T đều thừa nhận có sử dụng ma túy. Các kết quả xét nghiệm đều xác định ông Trương Minh T dương tính chất ma túy. Về nơi cư trú: Trong quá trình các cơ quan chức năng lập hồ sơ xác định ông Trương Minh T không có nơi cư trú ổn định.

Từ những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ như biên bản vi phạm hành chính, bản tường trình, kết quả xét nghiệm ma túy, phiếu trả lời về tình trạng nghiện ma túy hiện tại, biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, cùng các tài liệu, chứng cứ khác về độ tuổi, tình trạng cư trú của ông Trương Minh T, có đủ cơ sở pháp lý kết luận ông Trương Minh T là người đủ 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hành chính, không có nơi cư trú ổn định, bị nghiện ma túy nhưng không thực hiện việc đăng ký cai nghiện tự nguyện trong thời hạn quy định nên là đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 được sửa đổi, bổ sung năm 2020, Khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy năm 2021. Do vậy, Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố Thủ Đức, đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Trương Minh T là có cơ sở chấp nhận.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy dẫn đến nghiện ma túy của ông Trương Minh T là một tệ nạn xã hội, không những trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân, gây thiệt hại vật chất, tinh thần của người thân, mà còn là một hệ lụy mà xã hội phải gánh chịu, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm như trộm cắp, cướp giật, lừa đảo…Nhà nước đã có nhiều chính sách, pháp luật, biện pháp ngăn chặn tệ nạn ma túy, nhưng chưa kéo giảm, thậm chí còn có chiều hướng gia tăng tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa ông Trương Minh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian thích hợp để ông Trương Minh T được đi cai nghiện, chữa bệnh, học tập, tái hòa nhập cộng đồng trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Trong quá trình bị cơ quan chức năng phát hiện sử dụng ma túy, ông Trương Minh T đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, nên áp dụng khoản 2, Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 để giảm một phần thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Trương Minh T.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ các Điều 3, 9, 10, 95, 96, 103, 104, 105, 106 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 được sửa đổi, bổ sung năm 2020;

Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy năm 2021;

Căn cứ khoản 1 Điều 3; Điều 10; Điều 21; Điều 23; Điều 24; Điều 31; Điều 32; Điều 33 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Căn cứ Điều 40, Điều 41, Điều 42, Điều 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Trương Minh T tại Cơ sở cai nghiện ma túy Phú Đức.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày 21/01/2024.

Trong thời gian chấp hành cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan biết.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị: Ông Trương Minh T có quyền khiếu nại, Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố Thủ Đức có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày kể từ ngày công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố Thủ Đức; Cơ sở cai nghiện ma túy Phú Đức (Trực thuộc Sở Lao động thương binh và xã hội Thành phố Hồ Chí Minh).

Cỡ chữ