vanban.org

Quyết định 252/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 11/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Đình D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: bị cáo Lê Đình D 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/5/2019. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015 và khoản 1 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đình D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Đình D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LONG BIÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 252/2019/HS-ST
Ngày: 11 – 10 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, TP.HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Xuân Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Khanh và bà Đặng Thị Nhác

- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Hoàng Phương – Thư ký Toà án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Lê Đăng Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 237/2019/TLST-HS ngày 26 tháng 9 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 274/2019/QĐXXST-HS ngày 26/9/2019 đối với bị cáo:

LÊ ĐÌNH D – sinh năm: 1991 tại TH; HKTT và chỗ ở: Thôn C- Xã N- NL-TH; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Tự do; con ông Lê Đình D’ và bà Lê Thị H; Vợ: Cao Thị L; Có 01 con SN: 2013; TATS: Theo danh chỉ bản số 375 ngày 22/5/2019 của Công an quận Long Biên lập và lý lịch địa phương cung cấp thì bị cáo có 01 tiền án: Án số 25/HSST ngày 28/9/2011, Tòa án nhân dân huyện NL- Tỉnh TH xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản trộm cắp 22.500.000 đồng) và phải nộp án phí 200.000 đồng. Bị án đã nộp xong ngày 24/02/2012.

Bị cáo bị bắt ngày 16/5/2019. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11h40 phút ngày 16/5/2019, tại khu vực trước cửa số nhà 79 NGT- P. ĐG – Long Biên – Hà Nội, tổ công tác công an phường CK đang làm nhiệm vụ thì phát hiện 01 nam thanh niên đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện bên trong túi quần bên trái phía sau của nam thanh niên đang mặc có 02 giấy bạc bên trong có chứa chất bột màu trắng. Nam thanh niên khai tên là Lê Đình D, SN: 1991, HKTT: Thôn C- Xã N- NL- TH còn chất bột màu trắng trên là ma tuý. Tổ công tác đã thu giữ số ma túy trên và đưa D về trụ sở Công an giải quyết.

Tại Kết luận giám định số 3316 ngày 23/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự-Công an TP Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy bạc màu trắng là ma túy heroine, khối lượng 0,469 gam( BL 31).

Tại Cơ quan điều tra, Lê Đình D khai nhận: Bản thân D là người nghiện ma tuý, Khoảng 11h ngày 16/5/2019, D đi xe buýt một mình từ khu vực cầu Đ lên khu vực TS- BN, mục đích để mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, D gặp và mua của 01 người đàn ông không quen biết 02 gói ma túy với giá 100.000 đồng. Mua xong, D cầm ma túy ra khu vực bãi đất trống tại TS- BN để sử dụng ma túy. Tại đây, D gặp 01 người đàn ông không quen biết cũng đang sử dụng ma túy, sau khi sử dụng xong người đàn ông rủ D về công trình anh ta đang làm để ứng tiền nhờ D đi cùng mua máy hàn rồi đi làm cùng anh ta. D đồng ý và cất gói ma túy vừa mua xong vào túi quần bên trái phía sau của D. Người đàn ông chở D đến trước cửa số nhà 79 Phố NGT- P. ĐG- Q. Long Biên thì dừng xe máy, bảo D đi xuống xe đứng chờ để anh ta đi ứng tiền. Khi D đang đứng chờ thì bị lực lượng công an kiểm tra phát hiện lập biên bản phạm tội quả tang đưa về trụ sở để làm rõ.

Bản cáo trạng số: 278/CT-VKS ngày 20 - 9 -2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố Lê Đình D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên tòa:

Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của người làm chứng phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra thấy rằng: Hành vi của bị cáo Lê Đình D

“Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hành vi của bị cáo vi đã đủ yếu tố cấu thành tội: phạm vào điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều38; Điều 47 của BLHS 2015 và Điều 106 của BLTTHS.

Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo D mức án từ 20 tháng đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,469 gam Heroine và 01 xilanh nhựa bên trong có dính ma túy.

Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật-tài liệu, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dụng bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11h40 phút ngày 16/05/2019, tại khu vực trước cửa số nhà số 79 NGT- phường ĐG – Long Biên – Hà Nội, bị cáo Lê Đình D đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,469 gam heroine với mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác công an phường CK - Quận Long Biên - Thành phố Hà Nội phát hiện bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo Lê Đình D đã cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã cố ý xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy được Bộ luật hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần phải nghiêm trị đối với bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng TNHS:

Nhân thân của bị cáo có 01 Tiền án: Án số 25/HSST ngày 28/9/2011, Tòa án nhân dân huyện NL- Tỉnh TH xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội Trộm cắp tài sản theo luật định tiền án trên của bị cáo đã được xóa. Vì vậy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS.

Trong khi Đảng và Nhà nước ta đang kiên quyết đấu tranh để loại trừ tệ nạn ma túy, mại dâm ra khỏi đời sống xã hội thì hành vi phạm tội của bị cáo xét về tính chất, mức độ và nhân thân bị cáo xấu thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án tù trong khung hình phạt nhằm cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.

- Về hình phạt bổ sung:

Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.

- Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy 0,469 gam Heroine là vật nhà nước cấm lưu hành và 01 xi lanh nhựa bên trong có dính ma túy.

Đại diện VKSND quận Long Biên đề nghị về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS và xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp với nhận định của HĐXX.

- Về vấn đề khác:

Đối với đối tượng bán ma túy và sử dụng chung ma túy với D, trong quá trình điều tra D khai không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể vì vậy không có căn cứ để xác định, làm rõ đối với các đối tượng này. Khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là có căn cứ.

- Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Đình D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015:

Xử phạt: bị cáo Lê Đình D 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/5/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015 và khoản 1 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 0,469 gam Heroine và 01 xilanh nhựa bên trong có dính ma túy.

(Hiện đang lưu giữ tại Kho tang vật Công an quận Long Biên theo Phiếu nhập vật chứng ngày 08/7/2019).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Án xử công khai sơ thẩm.

Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án./.

Cỡ chữ