- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Xuân D- Hà Thị L"
- Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự như sau:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số 251/2020/QĐST-VHNGĐ | Phú Mỹ, ngày 28 tháng 12 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
Căn cứ Điều 212, Điều 213 và Điều 397 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 55, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân gia đình Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số 609/2020/TLST-VHNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2020 về việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con; gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu:
Ông Bùi Xuân D, sinh năm 1984. Địa chỉ: Tổ A, Thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Bà Hà Thị L, sinh năm 1985. Địa chỉ: Tổ A, Thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Hà Thị L và ông Bùi Xuân D tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2006, có tổ chức lễ cưới được hai bên gia đình đồng ý ông bà đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ngày 06 tháng 11 năm 2006.
Quá trình sống chung, vợ chồng sống với nhau hạnh phúc đến năm 2020 thì p sinh mâu thuẫn, do bất đồng về quan điểm sống không phù hợp tính cách nên vợ chồng không có sự gắn bó, yêu thương, tôn trọng nhau, Bà L và anh D đã tự ý ly thân từ đầu năm 2020 đến nay, không còn ai quan tâm chăm sóc nhau, mạnh ai nấy sống. Nay ông bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, ông bà yêu cầu tòa án giải quyết cho ông bà được thuận tình ly hôn.
Qua bản ý kiến và trình bày của các đương sự tại buổi hòa giải đoàn tụ ngày 18 tháng 12 năm 2020, nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đến nay đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên áp dụng Điều 55 Luật hôn nhân gia đình, ghi nhận việc bà Hà Thị L và ông Bùi Xuân D thuận tình ly hôn.
Về con chung: Bà L, ông D có 02 con chung Bùi Xuân S, sinh ngày 28/02/2007 và Bùi Tiến P, sinh ngày 11/7/2008. Bà L, ông D thỏa thuận giao cả 02 con chung cho ông D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông Bùi Xuân D tự nguyện không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn bà Hà Thị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc thăm con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về lệ phí: Ông Bùi Xuân D và bà Hà Thị L tự nguyện nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng .
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Bùi Xuân D và bà Hà Thị L thuận tình ly hôn(Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 40, quyển số 01/2006 ngày 06 tháng 11 năm 2006 của UBND xã Tân Hưng, thị xã Bà Rịa (nay là thành phố Bà Rịa tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không còn giá trị sử dụng kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực.
Về con chung: Bà Hà Thị L và ông Bùi Xuân D có 02 con chung Bùi Xuân S, sinh ngày 28/02/2007 và Bùi Tiến P, sinh ngày 11/7/2008. Theo nguyện vọng của con, bà L, ông D thỏa thuận giao cả 02 con chung cho ông D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông Bùi Xuân D tự nguyện không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, bà Hà Thị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc thăm con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về lệ phí: Ông Bùi Xuân D và Hà Thị L nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số 0006136 ngày 07/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ. Như vậy, ông D, bà L đã nộp xong lệ phí.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Phú Mỹ; - NĐKKH: UBND xã T, TP. B; - Chi cục THADS thị xã Phú Mỹ; - Đương sự; - Tòa án tỉnh - Lưu hồ sơ, VP. | (Đã ký) Văn Thị Hiền |