vanban.org

Quyết định 25/2025/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Phạm Văn Mười và bà Vũ Thị Bứa.

Các đương sự; VKSND huyện Chư Prông; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Văn Mười-Vũ Thị Bứa"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Phạm Văn Mười và bà Vũ Thị Bứa.
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯ PRÔNG
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 25/2025/QĐST- HNGĐChư Prông, ngày 03 tháng 3 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ vào hồ sơ vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 197/2024/TLST- HNGĐ, ngày 03 tháng 10 năm 2024 giữa; Nguyên đơn: Ông Phạm Văn Mười, sinh năm 1956. Địa chỉ: Làng Mui, xã Bình Giáo, huyện Chư Prông, Gia Lai. Bị đơn: Bà Vũ Thị Bứa, sinh năm 1955. Địa chỉ: Làng Mui, xã Bình Giáo, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Căn cứ vào Điều 55, 57 Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 21 tháng 02 năm 2025.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 21 tháng 02 năm 2025 là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Phạm Văn Mười và bà Vũ Thị Bứa. 2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau: Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Văn Mười và bà Vũ Thị Bứa tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1974 cho đến nay, ông Mười và bà Bứa không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Nay, ông Phạm Văn Mười và bà Vũ Thị Bứa đều nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài; họ không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc nhau trong một khoảng thời gian dài. Vì những nguyên nhân đó, ông Phạm Văn Mười và bà Vũ Thị Bứa thuận tình ly hôn. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Ông Phạm Văn Mười và bà Vũ Thị Bứa có 04 con chung là Phạm Thị Phương, sinh ngày 28/12/1976; Phạm Thị Mai, sinh ngày 11/4/1980; Phạm Trung Kiên, sinh ngày 04/3/1982 và Phạm Thị Mến, sinh ngày 04/6/1984. Hiện nay 04 con chung đã trưởng thành và có cuộc sống riêng nên ông Mười và bà Bứa không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. 3. Về án phí: Căn cứ Điều 2 Luật người cao tuổi; Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn nộp án phí hôn nhân và gia đình cho ông Phạm Văn Mười và bà Vũ Thị Bứa. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. 4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ