vanban.org

Quyết định 25/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre Tuyên án 15/03/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Đinh Thị Kiều M ly hôn với anh Phùng Lâm K.

Về con chung: Chị Đinh Thị Kiều M có quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phùng Lâm Quang V, sinh ngày 15/02/2022. Ghi nhận sự tự nguyện của chị M không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Phùng Lâm K có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Khi có nhu cầu, vì lợi ích của con chun… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Đinh Thị Kiều M ly hôn với anh Phùng Lâm K.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 21 - 02 - 2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Lâm

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Công Trung

2. Bà Võ Thị Hiền

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Vân – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Bà Dương Thy Trúc Phương – Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 646/2022/TLST - HNGĐ ngày 18/11/2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐST - HNGĐ ngày 03/01/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2023/QĐST – HNGĐ ngày 03/02/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Kiều M, sinh năm 1999 (vắng mặt – có đơn)

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh B.

Bị đơn: Anh Phùng Lâm K, sinh năm 1999 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp B, xã M, huyện B, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Đinh Thị Kiều M trình bày:

Chị và anh Phùng Lâm K tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện B, tỉnh B ngày 09/02/2022. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do giữa chị và anh K không có sự thấu hiểu nhau, từ lúc chị mang thai đến khi sinh con thì anh K ít chăm lo cho chị và con, bên cạnh đó giữa chị và mẹ chồng không hợp tính nhau nên chị đã về nhà mẹ ruột ở từ tháng 4/2022 cho đến nay, trong thời gian này anh K cũng có tới lui nhà chị để thăm con chứ không có nói gì về chuyện hàn gắn của vợ chồng, kể từ khi biết chị nộp đơn ly hôn đến Tòa án thì anh K không đến thăm con lần nào. Nay chị nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, chị không còn tình cảm vợ chồng với anh K, không muốn tiếp tục cuộc sống hôn nhân với anh K nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh K.

Về con chung: Trong thời gian chung sống chị và anh K có một con chung là cháu Phùng Lâm Quang V, sinh ngày 15/02/2022, khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị tự nguyện không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Trong quá trình tố tụng vụ án, bị đơn anh Phùng Lâm K không có văn bản thể hiện ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Kiều M, không đến Tòa án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm nên không có lời trình bày.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri trình bày quan điểm:

- Về thủ tục: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS). Hội đồng xét xử và Thư ký tại phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71 BLTTDS; bị đơn vắng mặt không lý do trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa xét xử nên chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 72 BLTTDS. Tại phiên tòa, nhận thấy thành viên Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư, khách quan độc lập khi xét xử. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử là đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung: Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị HĐXX:

+ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Đinh Thị Kiều M được ly hôn với anh Phùng Lâm K.

+ Về con chung: Giao con chung Phùng Lâm Quang V, sinh ngày 15/02/2022 cho chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị M không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung.

+ Về tài sản chung: Không có nên không xem xét giải quyết.

+ Về nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát. Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn anh Phùng Lâm K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử nhưng anh K vắng mặt không lý do. Nguyên đơn chị Đinh Thị Kiều M có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị M và anh K.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị M và anh K kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Chánh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre ngày 09/02/2022. Do đó, hôn nhân của chị M và anh K là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Quá trình giải quyết vụ án, chị M cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, hai bên đã sống ly thân từ tháng 4/2022 đến nay, mâu thuẫn của vợ chồng không thể hòa giải, hàn gắn được nên chị M yêu cầu ly hôn với anh K. Anh K biết việc chị M yêu cầu ly hôn với anh nhưng trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân huyện Ba Tri đã nhiều lần tiến hành tổ chức phiên hòa giải để vợ chồng hàn gắn tình cảm nhưng anh K vẫn vắng mặt không có lý do, cũng không gửi văn bản thể hiện ý kiến muốn hàn gắn tình cảm với chị M. Điều đó thể hiện anh K đã không có thiện chí muốn vợ chồng đoàn tụ. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị M và anh K là trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị M với anh K là có căn cứ phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị M và anh K có một con chung là Phùng Lâm Quang V, sinh ngày 15/02/2022 đang do chị M nuôi dưỡng. Hiện con chung dưới 36 tháng tuổi nên cần sự chăm sóc trực tiếp của người mẹ. Xét yêu cầu tiếp tục nuôi con chung của chị M là có cơ sở, đảm bảo được sự ổn định cho cuộc sống cũng như tâm sinh lý của con chung. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung cháu Quang V cho chị M tiếp tục nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị M không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không ai yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) chị Đinh Thị Kiều M phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Đinh Thị Kiều M ly hôn với anh Phùng Lâm K.

2. Về con chung: Chị Đinh Thị Kiều M có quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phùng Lâm Quang V, sinh ngày 15/02/2022. Ghi nhận sự tự nguyện của chị M không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Phùng Lâm K có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Khi có nhu cầu, vì lợi ích của con chung, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Tài sản chung, nợ chung: Không ai yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) chị Đinh Thị Kiều M phải nộp và được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000290 ngày 04/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị M đã nộp xong.

Chị Đinh Thị Kiều M, anh Phùng Lâm K vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ