- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn L, Đặng Thị T yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn"
- Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số:25/2022/QĐST- HNGĐ | Văn Giang, ngày 23 tháng 06 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN
Căn cứ Điều 212, 213 và 397 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều 55, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Luật phí và Lệ phí năm 2015;
Căn cứ Điều 4; Điều 6; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36; khoản 3 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Sau khi nghiên cứ hồ sơ việc dân sự thụ lý số 28/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 06 năm 2022 về việc: “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- Anh Nguyễn Văn L – Sinh năm: 1993
HKTT, hiện trú tại: Thôn GP, xã VK, huyện VG, tỉnh HY
- Chị Đặng Thị T – Sinh năm: 1996
HKTT: Thôn GP, xã VK, huyện VG, tỉnh HY
Hiện trú tại: Thôn CL, xã CĐ, huyện VL, tỉnh HY
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Con chung của anh L và chị T): Cháu Nguyễn Tú A, sinh ngày: 17/10/2020
Người đại diện theo pháp luật cho cháu Tú A: Chị Đặng Thị T
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn L và chị Đặng Thị T kết hôn trên tinh thần cả hai bên đều tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Khúc, huyện Văn Giang vào năm 2019. Quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn do không tìm được tiếng nói chung nên hay xảy ra cãi vã, gia đình khuyên nhủ nhiều nhưng không được. Mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng và đã ly thân khoảng 01 năm nay. Nay anh L và chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn và yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn cho anh, chị.
Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh anh L và chị T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cả hai đều yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Yêu cầu này của anh L và chị T là chính đáng, có căn cứ và phù hợp với Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận sự tự nguyện ly hôn giữa anh L và chị T.
Về con chung: Anh Nguyễn Văn L và chị Đặng Thị T đều xác nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Tú A sinh ngày 17/10/2020, cháu ở với chị T từ khi vợ chồng ly thân đến nay.
Ly hôn, anh L và chị T thỏa thuận giao cháu Tú A cho chị T được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ, đất nông nghiệp, công sức của hai vợ chồng: Anh Nguyễn Văn L và chị Đặng Thị T đều xác nhận không có gì liên quan và không yêu cầu giải quyết.
Về lệ phí: Chị Đặng Thị T tự nguyện nộp tiền lệ phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH
1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn L và chị Đặng Thị T thuận tình ly hôn.
Về con chung: Anh Nguyễn Văn L và chị Đặng Thị T đều xác nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Tú A sinh ngày 17/10/2020, cháu ở với chị T từ khi vợ chồng ly thân đến nay.
Ly hôn, anh L và chị T thỏa thuận: Giao cháu Nguyễn Tú A cho chị T được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, không ai được quyền ngăn cấm, cản trở anh L thăm nom con chung.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Về tài sản chung và nợ chung, công nợ, đất nông nghiệp, công sức của hai vợ chồng: Anh Nguyễn Văn L và chị Đặng Thị T đều xác nhận không có gì liên quan và không yêu cầu giải quyết.
2. Về lệ phí Tòa án: Chị Đặng Thị T tự nguyện nộp 300.000đ tiền lệ phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Đối trừ với 300.000đ tiền tạm ứng lệ phí chị T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0010666 ngày 07 tháng 6 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Giang, chị T đã nộp đủ lệ phí.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Thẩm phán Bùi Vũ Thu Giang |