vanban.org

Quyết định 25/2021/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 20/05/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Lang Thị Th,

Tuyên bố anh Cao Bá N, sinh năm 1992, nơi ĐKHKTT và cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn Q, xã T3, huyện T, tỉnh Thanh Hóa mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Lang Thị Th phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 30… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "TUYÊN BỐ MẤT TÍCH"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Lang Thị Th,
  • Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỌ XUÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 25/2021/QĐST-DSThọ Xuân, ngày 20 tháng 5 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Minh Tiến

Thư ký phiên họp: Bà Cao Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Tỉnh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 56/2020/TLST-DS ngày 21 tháng 12 năm 2020 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 05/2021/QĐST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Lang Thị Th, sinh năm 1996, địa chỉ: Thôn T 2, xã L, huyện Th1, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Cao Bá N, sinh năm 1992, nơi ĐKHKTT và cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn Q, xã T3, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Tại đơn yêu cầu và bản tự khai, người yêu cầu là chị Lang Thị Th trình bày: Chị Th và anh N có quan hệ là vợ chồng, lấy nhau trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Thọ Lâm, huyện Thọ Xuân vào ngày 31/12/2015. Sau khi kết hôn, tình cảm giữa vợ chồng có xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng trong sinh hoạt gia đình. Cuối năm 2017 thì chị về nhà bố mẹ đẻ sinh sống còn anh N vẫn ở nhà bố mẹ đẻ anh N tại thôn Quyết Tâm, xã Thọ Lâm. Đến tháng 7 năm 2018 thì chị về tìm anh N để giải quyết việc ly hôn, thì được biết anh N đã bỏ nhà đi khỏi địa phương không có tin tức. Chị và gia đình đã tìm kiếm anh N nhiều nơi nhưng không biết anh N đang ở đâu, làm gì. Đến nay chị vẫn không có tin tức gì về anh N, nên chị làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân tuyên bố anh Cao Bá N mất tích và có đơn yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm đối với anh N theo quy định.

Tại quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 28/2020/QĐ-TA ngày 22/12/2020 Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân đã thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với anh Cao Bá N theo đúng quy định, cụ thể: Tại Báo Nhân dân các số 23805, 23806, 23807 ra vào các ngày 24, 25, 26 tháng 12 năm 2020, cũng như Đài tiếng nói Việt Nam phát lúc 17 giờ 30 phút các ngày 29, 30, 31 tháng 12 năm 2020 đã nhắn tin, phát tin tìm kiếm anh Cao Bá N theo quy định, nhưng đến nay đã hơn 04 (bốn) tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên vẫn không có tin tức về anh Cao Bá N.

Tại phiên họp, Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người yêu cầu đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết: đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân áp dụng Điều 369, 370, 387, 388, 389 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự, chấp nhận yêu cầu của chị Lang Thị Th, tuyên bố anh Cao Bá N là người mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Lang Thị Th yêu cầu tuyên bố anh Cao Bá N, có HKTT và nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn Q, xã T3, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.

Tại phiên họp người yêu cầu bà Chị Lang Thị Th vắng mặt, nhưng trước đó có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Cao Bá N vắng mặt tại phiên họp không có lý do, nên căn cứ khoản 2, 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp vắng mặt chị Th và anh N.

Về nội dung yêu cầu: Quan hệ hôn nhân giữa chị Lang Thị Th và anh Cao Bá N là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, quá trình chung sống tình cảm giữa vợ chồng có phát sinh nhiều mâu thuẫn; Đến tháng 7/2018 anh N đã bỏ nhà đi khỏi địa phương, không tin tức. Từ khi anh N bỏ đi đến nay đã hơn 2 năm, chị Th đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức về anh N, không biết anh N hiện đang ở đâu, làm gì, còn sống hay đã chết, nên chị Th làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân tuyên bố anh Cao Bá N mất tích và có đơn yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm đối với anh N. Toà án nhân dân huyện Thọ Xuân đã thụ lý việc dân sự và ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với anh Cao Bá N, đồng thời thực hiện các thủ tục thông báo tìm kiếm theo quy định trên Đài tiếng nói Việt Nam và trên Báo Nhân dân. Ngày đăng, phát thông báo tìm kiếm anh Cao Bá N lần đầu tiên là ngày 24/12/2020, tính đến nay đã hơn 04 (bốn) tháng, nhưng vẫn không có tin tức gì về anh Cao Bá N.

Từ những phân tích nêu trên, xác định: anh Cao Bá N đã bỏ đi biệt tích từ tháng 7 năm 2018 đến nay là hơn 2 năm; chị Lang Thị Th là vợ đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về anh Cao Bá N. Do đó, có căn cứ chấp nhận đơn yêu cầu của chị Lang Thị Th và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân tại phiên họp, tuyên bố anh Cao Bá N mất tích là phù hợp.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Lang Thị Th phải nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, các Điều 149, khoản 2, 3 Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1, 3 Điều 68 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

- Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Lang Thị Th,

Tuyên bố anh Cao Bá N, sinh năm 1992, nơi ĐKHKTT và cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn Q, xã T3, huyện T, tỉnh Thanh Hóa mất tích.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Lang Thị Th phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng, chị Th đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2019/0006291 ngày 21/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân. Chị Lang Thị Th đã nộp đủ.

- Quyền kháng cáo: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết.

- Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ