- Tranh chấp gì? "Nguyễn Tuấn A"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Tuấn A (Tuấn L).
- Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÂM ĐỒNG Số: 25/2021/QĐ - TA | Di Linh, ngày 12 tháng 10 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Đoàn Văn Chiến
2. Thư ký phiên họp: Bà Đoàn Thị Vui – Cán bộ Tòa án.
Ngày 12 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Lâm Đồng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 27/2021/QĐ
- TA ngày 05 tháng 10 năm 2021 đối với:
Họ và tên: Nguyễn Tuấn A (Tuấn L); giới tính: Nam; sinh ngày 03/8/2001; CMND số: 251217486; ngày cấp 17/9/2016; nơi cấp: Công an tỉnh Lâm Đồng; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 9/12; quê quán: Hà Tĩnh; hộ khẩu thường trú: Thôn E, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở: Không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Không có nghề nghiệp ổn định; tiền án: Bản án số 35/2021/HSST ngày 16/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng xử phạt Nguyễn Tuấn A 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời giam thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án về tội trộm cắp tài sản; tiền sự: Không; con ông Nguyễn Đình H và bà Cao Thị H, có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện D: Bà Nguyễn Thị Đào - Chức vụ: Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện D.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D: Ông Phạm Duy Khánh - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Nguyễn Tuấn A là người sử dụng trái phép chất ma túy từ đầu năm 2020. Ngày 17/7/2021, Tuấn A sử dụng ma túy thì bị Công an xã H, huyện D phát hiện, lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Theo phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm y tế xã L đã xác định Nguyễn Tuấn A có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng: Methamphetamine (ma túy đá).
Nguyễn Tuấn A thừa nhận không có nghề nghiệp, sống lang thang, nay đây mai đó, không ở cố định một chỗ, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn E, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng nhưng không thường xuyên về nơi đăng ký hộ khẩu thường trú sinh sống, không đăng ký tạm trú tại huyện D, tỉnh Lâm Đồng, hay đi qua xã khác, huyện khác để chơi bời, gặp bạn bè. Theo lời trình bày của bà Cao Thị H, là mẹ của Nguyễn Tuấn A thì Nguyễn Tuấn A không thường xuyên sinh sống tại nơi thường trú, đi đâu, làm gì với ai không rõ, thỉnh thoảng mới về thăm nhà rồi lại đi đâu không rõ nên Nguyễn Tuấn A thuộc trường hợp không có nơi cư trú ổn định.
Ngày 29/9/2021, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện D có văn bản số 472/LĐTBXH-TNXH, đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp đưa vào sơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Tuấn A. Nơi đề nghị áp dụng cai nghiện bắt buộc: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lâm Đồng thôn P, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện D giữ nguyên quan điểm, đề nghị Tòa án căn cứ quy định của pháp luật, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Tuấn A với thời gian cai nghiện bắt buộc từ 21 đến 24 tháng.
Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D, tỉnh Lâm Đồng có quan điểm: Trình tự thụ lý hồ sơ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và tại phiên họp Thẩm phán, Thư ký, đại diện cơ quan đề nghị đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo pháp Lệnh số 09/2014/UBTVQH13, ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện D, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Tuấn A với thời gian cai nghiện bắt buộc từ 21 đến 24 tháng.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của cơ quan đề nghị, kiểm sát viên.
XÉT THẤY:
Về thẩm quyền: Hồ sơ của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện D, tỉnh Lâm Đồng lập, đề nghị Tòa án nhân dân huyện D xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Tuấn A do không có nơi cú trú ổn định là phù hợp với khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 3, Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13, ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Về thời hiệu áp dụng: Căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính ngày 18/7/2021 của Công an xã H, huyện D thì Nguyễn Tuấn A thừa nhận ngày 17/7/2021 đã sử dụng ma túy. Đến ngày 01/10/2021, Tòa án thụ lý hồ sơ nên vẫn còn thời hiệu xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 4 Nghị định số 221/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ.
Về nội dung xem xét: Theo biên bản ghi lời khai ngày 18/7/2021 của Công an xã H, huyện D và bản trường trình ngày 18/7/2021 của Nguyễn Tuấn A thì Nguyễn Tuấn A thừa nhận bắt đầu sử dụng ma túy từ đầu năm 2020. Ngày 17/7/2021, Nguyễn Tuấn A có sử dụng ma túy là ma túy đá, cần sa tại thôn H, xã H, huyện D. Xét lời khai của Nguyễn Tuấn A phù hợp với phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm y tế xã L, huyện D. Như vậy hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Tuấn A đã vi phạm khoản 3 Điều 3 Luật phòng chống ma túy; vi phạm quy định tại khoản 1, 16 Điều 2; khoản 1 Điều 96 và điểm a khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính. Hành vi này vi phạm quy định của pháp luật về chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.
Bản thân Nguyễn Tuấn A là người đã thành niên, có đầy đủ nhận thức, biết tác hại của ma túy và thuộc chất cấm nhưng vẫn sử dụng nên phải chịu trách nhiệm về hành vi của bản thân. Tuy nhiên cũng cần xem xét những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân như sau:
Tình tiết tăng nặng: Nguyễn Tuấn A có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích.
Tình tiết giảm nhẹ: Người vi phạm hành chính đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi theo khoản 2 điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét đề nghị của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện D về việc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có căn cứ được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Tuấn A (Tuấn L).
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 21 (Hai mươi mốt) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định; Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện D có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện D; Công an huyện D và Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lâm Đồng (Địa chỉ: thôn P, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng) thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - VKSND huyện D; - Phòng LĐ-TB&XH huyện D; - Công an huyện D; - UBND xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lâm Đồng; - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Đã ký và đóng dấu Đoàn Văn Chiến |