- Tranh chấp gì? "QD APBP cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
- Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| Tßa ¸n nh©n d©n HuyÖn øng hßa- tP Hµ Néi | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 25/2020/QĐ - TA |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, TP. HÀ NỘI
Với T phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Bùi T Minh
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Duyên – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa.
Ngµy 07 th¸ng 10 n¨m 2020, t¹i Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, T phố Hà Nội, tiÕn hµnh phiªn häp xem xÐt, quyÕt ®Þnh ¸p dông biÖn ph¸p xö lý hµnh chÝnh ® a vµo c¬ së cai nghiÖn b¾t buéc theo quyÕt ®Þnh më phiªn häp sè 25/2020/QĐ-TA ngµy 05/10/2020 ®èi víi:
Vũ Văn T - sinh năm 1981 (tên gọi khác: Không); Nơi ĐKHKTT: thôn T1, xã L, huyện L1, tỉnh Hòa Bình; giới tính: nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Vũ Văn N (đã chết) và bà Dương Thị H; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.(có mặt tại phiên họp).
Cã sù tham gia:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng lao động thương binh xã hội huyện Ứng Hòa do bà Phạm Thúy Hòa – Trưởng phòng, ủy quyền cho ông Lê Thanh Bình – Cán bộ phòng LĐTB – XH huyện Ứng Hòa, có mặt.
2. Đại diện VKSND huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội: Bà Nguyễn Thị Khuyến – Kiểm sát viên, có mặt.
NhËn thÊy
Sau khi xem xét đề nghị của Phòng lao động Thương binh và xã hội huyện øng Hoµ, Hà Nội và các tài liệu có trong hồ sơ về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vũ Văn T thể hiện: T là đối tượng lười lao động, nghiện ma túy từ năm 2003. Mặc dù, T chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy lần nào, T cũng chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc cũng như chưa sử dụng thuốc Methadone lần nào nhưng T khai nghiện từ năm 2003 đến nay vẫn chưa bỏ được, tần suất sử dụng một ngày một lần. Hơn nữa, T không có nghề nghiệp, không có nơi ở ổn định, đi lang thang; Mặc dù T có hộ khẩu thường trú ở thôn Tân Sơn, xã Liên Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình nhưng T thường xuyên không có mặt ở địa phương, chính quyền địa phương không nắm được T đi đâu, làm gì. Kết quả xét nghiệm nước tiểu của T ngày gần nhất 17/9/2020 là dương tính với ma túy. Bản thân T cũng thừa nhận mình vẫn còn sử dụng ma túy và phụ thuộc vào ma túy từ năm 2003 đến nay.
Ý kiến của cơ quan đề nghị tại phiên họp: Vũ Văn T lµ ®èi t îng nghiÖn ma tuý tõ n¨m 2003,T chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy lần nào, T cũng chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc cũng như chưa sử dụng thuốc Methadone lần nào nhưng T khai nghiện từ năm 2003 đến nay vẫn chưa bỏ được, tần suất sử dụng ngày một lần. Hơn nữa, T không có nghề nghiệp, không có nơi ở ổn định, đi lang thang; Bản thân T cũng thừa nhận mình vẫn còn sử dụng ma túy và phụ thuộc vào ma túy từ năm 2003 đến nay. Phòng Lao động thương binh và xã hội đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa T vào Cơ sở cai nghiện ma túy số II T phố Hà Nội để cai nghiện bắt buộc với thời gian là 24 tháng.
Ý kiến của đại diện viện kiểm sát: việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đều đảm bảo đúng, đầy đủ về trình tự, thủ tục trong quá trình lập hồ sơ đề nghị cũng như việc Tòa án thụ lý và mở phiên họp. Việc xem xét, quyết định áp dụng xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vũ Văn T là cần thiết vì T là đối tượng nghiện ma túy từ nhiều năm nay, tuy chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính về ma túy nhưng T là đối tượng lười lao động, không chịu tu dưỡng bản thân lại thường xuyên lang thang, không cư trú, không sinh sống tại nơi đăng ký nhân khẩu thường trú. Viện kiểm sát nhất trí đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian là từ 18 tháng đến 24 tháng.
Ý kiến của người bị đề nghị: Thừa nhận bản thân đã nghiện ma túy từ nhiều năm, đến nay vẫn chưa bỏ được và vẫn phải phụ thuộc vào ma túy, việc tự nguyện viết đơn xin đi cai nghiện và các thủ tục khác trong quá trình lập hồ sơ đưa đi cai nghiện đều đúng; đồng thời cũng nhất trí việc các cơ quan lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với mình.
XÉT THẤY:
Hồ sơ xem xét đưa đối tượng đi cai nghiện bắt buộc đều đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục, căn cứ đề nghị, cơ quan lập hồ sơ đề nghị và người bị đề nghị.
Về tính chất, hành vi, vi phạm của người bị đề nghị là nghiêm trọng, ma túy là một tệ nạn xã hội nguy hiểm, nó hủy hoại sức khỏe của con người là nguyên nhân làm lây lan, phát triển căn bệnh thế kỷ HIV- AIDS, làm phát sinh nhiều loại tội phạm kh¸c, xâm phạm trËt tự, an ninh thôn xóm, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân. Bản thân người bị đề nghị là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2003 và đã có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xong bị cáo không lấy đó là bài học, từ bỏ ma túy; T là đối tượng thường xuyên đi lang thang không có nơi cư trú ổn định. Lần sử dụng ma túy gần nhất là ngày 17/9/2020; Vì vậy, việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết. Đại diện Viện kiển sát nhân dân huyện Ứng Hòa và Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện Ứng Hòa đề nghị đưa T đi cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 18 đến 24 tháng. Do đó, cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp, để T cai nghiện chất ma túy trở T người hữu ích cho gia đình và xã hội, đảm bảo trật tự an toàn xã hội.
Căn cứ:
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 95; khoản 1 Điều 96; khoản 2,3 Điều 103; Điều 104, Điều 107; Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính;
- Căn cứ khoản 1 Điều 3; Điều 4; khoản 2 Điều 8; khoản 1 Điều 9; Điều 11; Điều 12; Điều 13 Nghị định 221/2013/NĐ-CP; Nghị định 136/2016/NĐ-CP; Điều 16 Nghị định 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ;
- Căn cứ Điều 3,7, 11, 16, 17, 18,19, 20, 23, 24, 29, 30, 31Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của uỷ ban thường vụ Quốc Hội , trình tự , thủ tục xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân ;
- C¨n cø vµo c«ng v¨n ®Ò nghÞ sè 110/L§TBXH-TNXH ngµy 02/10/2020 cña Phßng lao ®éng th ¬ng binh vµ x· héi huyÖn øng Hßa.
QuyÕt ®Þnh:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vũ Văn T.
2. Thêi hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vũ Văn T là 16 (Mười sáu) tháng, tính từ ngày 17/9/2020 (Ngày UBND xã Cao T huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nôi có quyết định giao T cho cơ sở cai nghiện ma túy số II T phố Hà Nội quản lý).
3. Vũ Văn T cã quyÒn khiÕu n¹i kể từ ngày nhËn ® îc quyết định trong thời hạn 03 ngày; Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát cïng cấp có quyền kháng nghị đối với quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày công bố quyết định của Tòa án.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị. N¬i nhËn:
ThÈm ph¸n
- VKSND huyÖn Ứng Hoµ;
- C«ng an huyÖnỨng Hoµ;
- Phòng LĐTB &XH;
- Ng êi bÞ ®Ò nghÞ; -UBND xã nơi đối tượng thường trú
Bùi Thanh Minh
- L u hs.