vanban.org

Quyết định 241/2024/QĐ-TA

TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 12/12/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Đặng Văn T, sinh ngày 30/5/1972; tên gọi khác: Không.

Vào Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai; địa chỉ: Ấp C, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc."
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Đặng Văn T, sinh ngày 30/5/1972; tên gọi khác: Không.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy…; Điều 23 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 24 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 241/2024/QĐ-TABiên Hòa, ngày 12 tháng 12 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt

buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

- Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Ông Đường Anh S.

- Thư ký phiên họp: Ông Phan Hoàng Long.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 233/2024/QĐ-TA ngày 05 tháng 12 năm 2024, đối với:

Họ và tên: Đặng Văn T, sinh ngày 30/5/1972;

Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không.

Số căn cước: 075072003306, do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 18/8/2022.

Địa chỉ: Số A, khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Số điện thoại: 0937.698.653;

Nghề nghiệp: Bảo vệ. Tiền án, tiền sự: Không.

Con ông Đặng Văn T1, sinh năm 1944 và bà Phạm Thị T2, sinh năm 1950.

Ông T vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố B, tỉnh Đồng Nai: Bà Ngô Thị Lệ Q - Chuyên viên Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố B. Theo văn bản ủy quyền ngày 20/8/2024 của Trưởng phòng Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố B.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai: Bà Nguyễn Thị Đông - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 08/11/2024, Công an phường T, thành phố B tiến hành kiểm tra nước tiểu đối tượng Đặng Văn T do nghi ngờ T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; qua tiến hành làm việc T khai nhận có sử dụng trái phép chất ma túy Heroin lần gần nhất là vào sáng ngày 08/11/2024.

Tại Biên bản xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 08/11/2024 của Trạm Y tế phường T, thể hiện: Mẫu nước tiểu của Đặng Văn T dương tính với chất ma túy Morphine (H) trong cơ thể. Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy trong cơ thể ngày 08/11/2024 của Trạm Y tế phường T, xác định: Đặng Văn T có nghiện ma túy Heroin (M).

Công an phường T lập biên bản vi phạm hành chính số 0218/BB-VPHC ngày 08/11/2024, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với T.

Căn cứ theo đề nghị của Trưởng Công an phường T, ngày 08/11/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T lập biên bản vi phạm số 33/BB-VPHC, về “Cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế” đối với Đặng Văn T, do T có hành vi vi phạm hành chính sử dụng trái phép chất ma túy, được cơ quan công an hướng dẫn đăng ký cai nghiện tự nguyện nhưng không chấp hành.

Ngày 11/11/2024, Ủy ban nhân dân phường T ra Thông báo số 34/TB, về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đặng Văn T. Cùng ngày, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T ra Quyết định số 32/QĐ-UBND, về việc giao cho gia đình quản lý người nghiện trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T.

Ngày 15/11/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T ban hành văn bản số 35/ĐN-UBND, về việc xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T.

Ngày 02/12/2024, Trưởng phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố B có công văn số 218/ĐN-LĐTB-XH, đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T.

* Ý kiến của đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố B: Đối tượng Đặng Văn T nghiện ma túy heroin kéo dài từ năm 2018, được cơ quan công an hướng dẫn tham gia đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng trong tháng 11/2024, nhưng không chấp hành và tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Do vậy, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xem xét ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai, địa chỉ: Ấp C, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa: Việc thụ lý và giải quyết vụ việc đúng thẩm quyền, hồ sơ đầy đủ tài liệu theo quy định, bảo đảm cho việc xem xét, phán quyết của Tòa án. Đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố B áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đặng Văn T thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

Tại phiên họp, Đặng Văn T vắng mặt không có lý do chính đáng; tuy nhiên Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho ông T các văn bản theo đúng quy định của pháp luật, bao gồm: Thông báo về việc thụ lý hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số: 233/TB-TLHS ngày 04 tháng 12 năm 2024; Quyết định mở phiên họp số: 229/2024/QĐ-TA ngày 05 tháng 12 năm 2024.

Do vậy, căn cứ vào khoản 8 Điều 1 Nghị quyết số: 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo thủ tục chung.

Ngày 11/11/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T ra Quyết định số 32/QĐ-UBND, về việc áp dụng biện pháp quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đặng Văn T. Do T là người nghiện ma túy đã bị lập biên bản sự việc về sử dụng trái phép chất ma túy và tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, được hướng dẫn đăng ký cai nghiện tự nguyện theo quy định nhưng không chấp hành. Tại bản tường trình ngày 08/11/2024, T khai sử dụng ma túy là H từ năm 2018, lần gần nhất là sáng ngày 08/11/2024; cho thấy, T nghiện ma túy kéo dài nhiều năm, từng tham gia điều trị cai nghiện tự nguyện tại cộng đồng, sau đó tái nghiện, không chấp hành đăng ký cai nghiện tự nguyện mà vẫn sử dụng ma túy. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ thể hiện tại hồ sơ, đối chiếu với quy định của pháp luật, nhận thấy T thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 và Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020; Điều 32, Điều 33, Điều 41, Điều 42 và Điều 43 của Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.

Về thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Ngày 08/11/2024, T sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an phường T phát hiện và lập biên bản về vi phạm hành chính. Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 9 của Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì trường hợp này hiện đang trong thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Đặng Văn T được lập theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020; Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện; Nghị định số 105/2021/NĐ-CP ngày 04/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng, chống ma túy; Thông tư số 05/2018/TT-BCA ngày 07/12/2018 quy định việc thu thập tài liệu, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Do vậy, cần đưa Đặng Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo đề nghị của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố B và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa là phù hợp với quy định của pháp luật, để đối tượng T có thời gian cai nghiện, nhận thức được hành vi sai phạm của mình, có hướng cải tạo, tu dưỡng bản thân trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời cũng để cảnh báo, giáo dục và phòng ngừa chung.

Từ các nội dung nêu trên, căn cứ vào Điều 23, Điều 24 và Điều 32 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; chấp nhận đề nghị về việc “Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Đặng Văn T.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Đặng Văn T, sinh ngày 30/5/1972; tên gọi khác: Không. Địa chỉ: Số A, khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Vào Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai; địa chỉ: Ấp C, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan biết.

3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án; cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an thành phố B phối hợp với Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố B thi hành quyết định này theo luật định.

Cỡ chữ