- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình giữa chị Phạm Thị N và anh Vũ Mạnh H"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị N và anh Vũ Mạnh H (Vũ Tiến H).
- Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 240/2019/QĐST-HNGĐ | TP. T, ngày 04 tháng 11 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ vào hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 121/2019/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình giữa: 1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị N, sinh năm 1974; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: Tòa nhà P, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình. 2. Bị đơn: Anh Vũ Mạnh H (Vũ Tiến H), sinh năm 1969; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Đường L, phường LH, quận ĐĐ, Thành phố Hà Nội. Nơi công tác: Công ty B – Địa chỉ: Đường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Căn cứ vào Điều 212, Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 25 tháng 10 năm 2019.
XÉT THẤY:
Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 25 tháng 10 năm 2019 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị N và anh Vũ Mạnh H (Vũ Tiến H). 2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: 2.1. Về quan hệ con chung: Chị Phạm Thị N và anh Vũ Mạnh H (Vũ Tiến H) có hai con chung là Vũ Thị Hà G, sinh ngày 03 tháng 11 năm 1995 và Vũ Việt D, sinh ngày 23 tháng 3 năm 2004. Ly hôn, chị Phạm Thị N và anh Vũ Mạnh H (Vũ Tiến H) thống nhất thỏa thuận: Con Vũ Thị Hà G đã trên 18 tuổi, tự lập về kinh tế, có gia đình riêng, anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con đối với con G; Chị Phạm Thị N trực tiếp nuôi dạy con Vũ Việt D, anh Vũ Mạnh H (Vũ Tiến H) có trách nhiệm cấp dưỡng cho con D 3.000.000 đồng/01 tháng (ba triệu đồng một tháng), thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 11 năm 2019 đến khi con đủ 18 tuổi. Anh Vũ Mạnh H (Vũ Tiến H) có quyền, nghĩa vụ thăm nom con Vũ Việt D mà không ai được cản trở. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi mức cấp dưỡng cho con đối với con Vũ Việt D được đặt ra giải quyết khi có yêu cầu. 2.2. Về quan hệ tài sản: Chị Phạm Thị N và anh Vũ Mạnh H (Vũ Tiến H) không yêu cầu Tòa án giải quyết. 2.3. Về án phí: Chị Phạm Thị N tự nguyện nộp cả 150.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 150.000 đồng chị N đã nộp tạm ứng án phí tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009993 ngày 28 tháng 8 năm 2019 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình sang thành án phí. Trả lại chị Phạm Thị N 150.000 đồng. Anh Vũ Mạnh H (Vũ Tiến H) phải nộp 150.000 đồng án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TP. Thái Bình; - Cơ quan thực hiện việc ĐKKH: UBND xã X, huyện ĐH, tỉnh Thái Bình; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (đã ký) Nguyễn Thị Linh Nga |