vanban.org

Quyết định 240/2019/QĐ-PT — Tranh chấp về thừa kế tài sản

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 18/11/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 38/2019/QĐST-DS ngày 23 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

Án phí dân sự phúc thẩm: Áp dụng điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Trần Tấn Đ. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 18 tháng 11 năm 2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Yêu cầu hủy di chúc và hủy quyết định hành chính cá biệt"
  • Tòa quyết gì? Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 38/2019/QĐST-DS ngày 23 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 240/2019/QĐ-PTĐà Nẵng, ngày 18 tháng 11 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

Hội đồng phiên họp phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Trương Công Thi

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Cường

Ông Đặng Kim Nhân

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 38/2019/QĐST-DS ngày 23 tháng 9 năm 2019.

Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã căn cứ vào các Điều 48, 217, 218, 219 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “ Yêu cầu hủy di chúc và hủy quyết định hành chính cá biệt” giữa:

- Nguyên đơn: Ông Trần Tấn Đ, sinh năm 1956.

Địa chỉ: K97/8, đường P, tổ 21, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng.

- Bị đơn: Ông Trần H1, sinh năm 1952.

Địa chỉ: Tổ 33, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Trần Thanh H2, sinh năm 1973.

Địa chỉ: Tổ 3, thôn A, xã B, huyện T1, tỉnh Quảng Nam.

- Ông Trần S, sinh năm 1968.

Địa chỉ: Tổ 3, xã B1, huyện T1, tỉnh Quảng Nam.

- Bà Trần Thị T2, sinh năm 1971.

Địa chỉ: Tổ 2, thôn Thanh S, xã B2, huyện T1, tỉnh Quảng Nam.

- Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đà Nẵng.

Địa chỉ: Tầng 15, Tòa nhà Trung tâm hành chính, số 24 đường T3, thành phố Đà Nẵng.

- Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đà Nẵng.

Địa chỉ: 57 đường Q, thành phố Đà Nẵng.

- Văn phòng công chứng N,

Địa chỉ: 108 đường T4, thành phố Đà Nẵng.

Tại đơn kháng cáo ngày 25 tháng 9 năm 2019, của nguyên đơn ông Trần Tấn Đ với lý do: Qua biên bản hòa giải các đương sự đã đồng ý theo biên bản hòa giải nhưng Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng không ra quyết định công nhận sự thỏa thuận mà ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là không đúng pháp luật, do không hiểu biết pháp luật và nghe theo hướng dẫn của cán bộ Toà án nên ông đã viết đơn xin rút đơn khởi kiện, nay ông kháng cáo yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án.

XÉT THẤY:

Ngày 20/9/2019 ông Trần Tấn Đ là nguyên đơn trong vụ án đã có “Đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện” đồng thời ông Đ cũng có “Đơn xin nhận lại tài liệu, chứng cứ” nộp cho Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

Nhận thấy: Việc xin rút lại toàn bộ yêu cầu khởi kiện và xin nhận lại tài liệu, chứng cứ của ông Trần Tấn Đ là tự nguyện. Xem xét nội dung “Biên bản hòa giải” được lập hồi 15h 30 phút, ngày 19/9/2019 ( Bút lục 125, 126) có tại hồ sơ vụ án thì chỉ ghi lại lời trình bày của các đương sự, chưa có nội dung gì thể hiện sự thống nhất về việc giải quyết vụ án giữa các đương sự, thành phần tham dự hòa giải không đầy đủ, chỉ có 03 đương sự tham gia ký. Mặc khác, “Biên bản hòa giải” nêu trên cũng chưa đủ 07 ngày, nhưng ông Trần Tấn Đ đã có đơn xin rút lại yêu cầu khơi kiện, không thể căn cứ vào biên bản này để ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự.

Đối với “Biên bản hòa giải” lập hồi 13h30 phút, ngày 20/9/2019, (kết thúc lúc 14h 30 phút cùng ngày), là bản sao, do ông Đ nộp, có một số nội dung thỏa thuận, có chữ ký của 05 đương sự (Trần Tấn Đ, Trần S, Trần Thị Th, Trần Thanh H2 và một người không rõ tên), là tài liệu do ông Đ cung cấp, không có trong hồ sơ vụ án.

Việc ông Đ cho rằng do cán bộ Tòa án hướng dẫn ông rút đơn khởi kiện nhưng ông không cung cấp chứng cứ, tài liệu gì để chứng minh.

Do vậy, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã căn cứ vào các Điều 48, 217, 218, 219 của Bộ luật Tố tụng dân sự ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 38/2019/QĐST-DS ngày 23 tháng 9 năm 2019 là đúng với các quy định của pháp luật. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Trần Tấn Đ, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nêu trên của Tòa án cấp sơ thẩm.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Tấn Đ là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí dân sự phúc thẩm, xét miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Đ.

Vì các lẽ nêu trên,

Căn cứ: Điểm a, khoản 5, Điều 314 Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 38/2019/QĐST-DS ngày 23 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

2. Án phí dân sự phúc thẩm: Áp dụng điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Trần Tấn Đ.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 18 tháng 11 năm 2019.

Cỡ chữ