vanban.org

Quyết định 24

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn N, sinh ngày 06/12/1997, hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã T, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.

Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 (Hai mươi hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định là 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định, ngư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lê Văn N"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn N, sinh ngày 06/12/1997, hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã T, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Nghị định số 56/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Nghị định số 111/2016/NĐ-CP Quy định điều kiện kinh doanh dị…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NÔNG CỐNG
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Sè: 24/QĐ-TANông Cống, ngày 10 tháng 12 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1.Thẩm phán: Ông Lê Xuân Tuyên

2. Thư ký phiên họp: Bà Trịnh Thị Hà

Ngày 10 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 23/QĐ-TA ngày 03/12/2020 đối với:

Họ và tên: Lê Văn N. Giới tính: Nam; sinh ngày 06/12/1997; Căn cước công dân số: 038097001512; cấp ngày 26/02/2020; nơi cấp: Cục Cảnh sát; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Lớp 9/12.

Nguyên quán: xã T, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.

Hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã T, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.

Chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã T, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Chủ tịch UBND xã T, huyện C, tỉnh Thanh Hóa áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo Quyết định số 107/QĐ- UBND ngày 15 tháng 7 năm 2020, thời hạn 03 tháng.

Con ông: Lê Văn N1 và bà Nguyễn Thị V.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lại Duy Tuấn - Phó Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyÖn N«ng Cèng.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống: Bà Lê Thị Kim Oanh - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Người bị đề nghị Lê Văn N sử dụng ma túy từ năm 2014 cho đến nay, loại ma túy sử dụng là Hêrôin vớ i hinh thứ c sử du ̣ng là chích. Gia đinh và đi ̣a

̀

̀ phương nhiều lần nhắc nhở và có biê ̣n pháp cai nghiê ̣n bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 Đắk Nông và biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo Quyết định số 107/QĐ- UBND ngày 15 tháng 7 năm 2020 của Chủ tịch UBND xã T, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đến ngày 06/11/2020 N vẫn tiếp tu ̣c sử dụng ma túy. Tại Phiếu xét nghiệm ngày 09/11/2020 của Trung tâm y tế huyê ̣n Nông Cống cho thấy Lê Văn N dương tính với chất ma túy.

Tại Công văn số 84/LĐ-TBXH ngày 02/12/2020 và hồ sơ kèm theo, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Nông Cống đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện đối với Lê Văn N.

Tại phiên họp, đại diện phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Nông Cống giữ nguyên yêu cầu và đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Lê Văn N bằng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 Thanh Hóa, tại thôn K, xã G, huyện C, tỉnh Thanh Hóa với thời gian từ 18 tháng đến 24 tháng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp :

Về việc thiết lập hồ sơ: Đảm bảo đúng trình tự quy định của pháp luật.

Về tố tụng: Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền, giao, tống đạt văn bản tố tụng cho các cơ quan và người bị đề nghị, mở phiên họp đúng thời hạn theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Thống nhất ý kiến của đại diện Phòng Lao động -Thương binh và Xã hội huyện Nông Cống, đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn N thời hạn từ 22 tháng đến 24 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 Thanh Hóa.

XÉT THẤY

Sau khi nghe ý kiến trình bày của cơ quan đề nghị, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống tại phiên họp.

Sau khi kiểm tra và xem xét các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ, Tòa án nhân dân huyện Nông Cống nhận định:

1. Xét về thẩm quyền giải quyết:

Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội huyện Nông Cống đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng nghiện ma túy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, quy định tại khoản 2 Điều 3 Pháp lệnh về trình tự, thủ tục, xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính; khoản 2 Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012.

2. Về tố tụng: Lê Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên họp nhưng vắng mặt có giấy báo cáo vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt Lê Văn N theo khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh Trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án.

3. Về tính hợp pháp của hồ sơ:

Hồ sơ đề nghị, xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được lập đúng trình tự, thủ tục, được cơ quan có thẩm quyền thẩm định tính pháp lý của hồ sơ quy định tại các Điều 8 đến Điều 13 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 và Nghị định 136/2016/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 221/2013/NĐ - CP của Chính phủ, nên đảm bảo điều kiện xem xét.

Đối tượng Lê Văn N đã có hành vi sử dụng ma túy trái phép (Hêrôin) từ năm 2014 với hình thức sử dụng là chích. Tại phiên họp những người tham gia phiên họp đều thống nhất cần thiết phải đưa Lê Văn N vào cơ sở cai nghiện tập trung. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Văn N đã vi phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, góp phần làm cho ma túy len lỏi vào đời sống cộng đồng, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Vì vậy, việc áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc là cần thiết đối với chính người nghiện, đồng thời bảo vệ môi trường sống lành mạnh, giữ gìn trật tự an toàn xã hội.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của người bị đề nghị:

- Về tình tiết tăng nặng: Chủ tịch UBND xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo Quyết định số 107/QĐ-UBND ngày 15 tháng 7 năm 2020, thời hạn 03 tháng. Đến ngày 06/11/2020 Lê Văn N tiếp tục sử sụng ma túy nên thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Không có tình tiết giảm nhẹ.

Từ những phân tích trên, căn cứ vào các Điều 3, khoản 2 Điều 19, Điều 23, Điều 30, Điều 31, Điều 32 Pháp lệnh về trình tự, thủ tục, xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính và các Điều 6, điểm h khoản 1 Điều 10, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều 105, Điều 107, Điều 108, Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Khoản 1 Điều 3; Điều 15 Nghị định số 221/2013/CP ngày 30/12/2013 và Nghị định 136/2016/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 221/2013/NĐ - CP của Chính phủ; Nghị định số 56/2016/NĐ-CP ngày 29/6/2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 111/2016/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn N, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn N, sinh ngày 06/12/1997, hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã T, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.

2. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 (Hai mươi hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định là 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định, người vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn khiếu nại 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Nông Cống phối hợp Công an huyện Nông Cống đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ