- Tranh chấp gì? "Nguyễn Thanh T"
- Tòa quyết gì? 1/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thanh T.
- Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 10 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 103 Luật xử lý vi phạm xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Số: 24/QĐ – TA | Thủ Dầu Một, ngày 03 tháng 7 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƢƠNG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Ông Lê Minh Đạo.
2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Minh Hiếu.
Ngày 03 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng, tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 25/QĐ - TA ngày 26 tháng 6 năm 2020 đối với:
Họ và tên: Nguyễn Thanh T.
Giới tính: Nam.
Sinh năm 1981.
Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hoá: 00/12
Nguyên quán: Tỉnh Bình Dƣơng.
Hộ khẩu thƣờng trú: Phƣờng C, thành phố M, tỉnh Bình Dƣơng.
Chỗ ở: Phƣờng C, thành phố M, tỉnh Bình Dƣơng.
Nghề nghiệp: Không.
Tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 19/02/2020, Chủ tịch UBND phƣờng C, thành phố M, tỉnh Bình Dƣơng ban hành Quyết định số 25/QĐ – UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại phƣờng với thời hạn 03 tháng.
Nhân thân: Ngày 15/01/1999, Ủy ban nhân dân phƣờng C áp dụng biện pháp giáo dục tại phƣờng trong thời hạn 03 tháng; Ngày 27/11/1999, bị áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở giáo dục bắt buộc về hành vi gây rối trật tự cộng cộng; Ngày 20/7/2005, Tòa án nhân dân thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo bản án hình sự sơ thẩm số 100/HSST. Ngày 21/11/2014, Công an thành phố Thủ Dầu Một xử phạt vi phạm hành chính về hành vi say rƣợu, bia gây mất trật tự công cộng theo hồ sơ số 83XP0615/7110103.
Con ông Nguyễn Văn M và bà Lê Thị T.
Vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1/ Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đỗ Duy V – Cán bộ Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thành phố M.
2/ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một: Bà Nguyễn Thị Hải – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Theo hồ sơ đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thanh T do Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thành phố M chuyển đến thể hiện:
Ngày 07/5/2020, Công an phƣờng C, thành phố M, tỉnh Bình Dƣơng phát hiện Nguyễn Thanh T sử dụng trái phép chất ma tuý và lập biên bản vi phạm hành chính. Căn cứ phiếu trả lời về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 07/5/2020 của Trung tâm Y tế thành phố M thể hiện: Nguyễn Thanh T có nghiện ma túy, loại Methamphetamine. Do đó, Chủ tịch UBND phƣờng C đã ban hành Quyết định về việc lập hồ sơ đề nghị đƣa Nguyễn Thanh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Quyết định giao Nguyễn Thanh T cho gia đình quản lý.
Ngày 19/5/2020, Công an phƣờng C đã ban hành Thông báo số 02/TB - CAP về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Thông báo đã đƣợc giao cho Nguyễn Thanh T.
Ngày 17/6/2020, Trƣởng Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thành phố M đã ban hành văn bản số 305/LĐ.TBXH về việc đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thanh T.
Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M phát biểu quan điểm: Nguyễn Thanh T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, đã đƣợc cơ quan có thẩm quyền xác định có nghiện ma tuý. Do Nguyễn Thanh T đã thành niên, có nơi cƣ trú ổn định, từng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phƣờng do nghiện ma túy nhƣng vẫn còn nghiện nên đề nghị Toà án đƣa Nguyễn Thanh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 18 tháng đến 24 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một phát biểu quan điểm: Hồ sơ đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thanh T đúng theo qui định của Luật xử lý vi phạm hành chính. Quá trình thụ lý giải quyết và tại phiên họp, Tòa án đã thực hiện đúng theo các qui định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Do Nguyễn Thanh T có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, đã đƣợc cơ quan có thẩm quyền xác định có nghiện ma tuý. Bản thân Nguyễn Thanh T đã thành niên, có nơi cƣ trú ổn định, từng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phƣờng do nghiện ma túy nhƣng vẫn còn nghiện nên việc Trƣởng Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thành phố M đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp. Đề nghị Toà án chấp nhận theo lời đề nghị của Phòng lao động thƣơng binh và xã hội.
XÉT THẤY:
Do Nguyễn Thanh T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên Công an phƣờng C lập biên bản vi phạm hành chính. Việc lập biên bản vi phạm hành chính của Công an phƣờng C đối với Nguyễn Thanh T là phù hợp theo Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính, đƣợc hƣớng dẫn tại Điều 6 Nghị định 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.
Theo phiếu trả lời kết quả ngày 07/5/2020 của Trung tâm y tế thành phố M thể hiện Nguyễn Thanh T có nghiện ma tuý, loại ma tuý là Methamphetamine.
Nguyễn Thanh T có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý là ngày 07/5/2020 tính đến ngày Toà án mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đƣa Nguyễn Thanh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là còn trong thời hiệu, theo qui định tại Điểm d Khoản 2 Điều 6 của Luật xử lý vi phạm hành chính, đƣợc hƣớng dẫn tại Điều 4 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.
Theo hồ sơ thể hiện Nguyễn Thanh T có đăng ký hộ khẩu thƣờng trú tại phƣờng C, thành phố M, tỉnh Bình Dƣơng. Bản thân Nguyễn Thanh T đã thành niên, có nơi cƣ trú ổn định, từng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phƣờng do nghiện ma túy nhƣng vẫn còn nghiện. Do đó Chủ tịch UBND phƣờng C quyết định lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp theo qui định tại Điểm a Khoản 1 Điều 103 của Luật xử lý vi phạm xử lý vi phạm hành chính.
Xét thấy, Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thanh T là phù hợp theo qui định tại Điều 95, 96 và Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính, các Điều 8, 9, 10 và Điều 11 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ; Nghị định số 136/2016/NĐ – CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP. Hồ sơ đã đƣợc Trƣởng phòng tƣ pháp kiểm tra và xác định hồ sơ đã đảm bảo tính pháp lý, theo qui định tại Điều 12 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ; Nghị định số 136/2016/NĐ – CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Nguyễn Thanh T xâm phạm đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của con ngƣời cũng nhƣ ảnh hƣởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến những tội phạm hình sự khác. Do đó, cần thiết phải đƣa Nguyễn Thanh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian để chữa bệnh, lao động, học văn hóa và học nghề nhằm giúp Nguyễn Thanh T trở thành ngƣời tốt và có ích cho xã hội.
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Ngƣời vi phạm thành khẩn khai báo, thành thật hối lỗi quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị của Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thành phố M về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thanh T trong thời gian 18 tháng đến 24 tháng là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thanh T.
2/ Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mƣời tám) tháng, kể từ ngày ngƣời bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đƣa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3/ Ngƣời bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đƣợc quyết định, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Quyết định đƣợc công bố.
4/ Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5/ Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thành phố M có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Thủ Dầu Một; - Trƣởng Công an thành phố Thủ Dầu Một; - Trƣởng phòng Lao động - Thƣơng binh và xã hội Tp.Thủ Dầu Một; - UBND phƣờng lập hồ sơ; - Ngƣời bị đề nghị; - Lƣu hồ sơ. | THẨM PHÁN Lê Minh Đạo |