vanban.org

Quyết định 24/QĐ-TA

TAND huyện Châu Phú, tỉnh An Giang Tuyên án 15/03/2023 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Phạm Thành Q.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 16 tháng (Mười sáu tháng) kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ (quản lý) để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 24/02/2023). Người bị áp dụng có quyền khiếu nại trong thời hạn là 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Phạm Thành Q.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Số: 24/QĐ-TA
CP, ngày 15 tháng 3 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CP, TỈNH AN GIANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Thái Dương Thùy Dung.

2. Thư ký phiên họp: Bà Ngô Thái Trân.

Ngày 15 tháng 3 năm 2023, tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân huyện CP,

tỉnh An Giang và tại điểm cầu Trung tâm Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An

Giang, Tòa án nhân dân huyện CP tiến hành phiên họp trực tuyến xem xét, quyết

định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo

Quyết định mở phiên họp số: 21/QĐ-TA ngày 06 tháng 3 năm 2023, đối với:

Họ và tên: Phạm Thành Q, sinh ngày 05/7/1987. Giới tính: Nam; Số căn

cước công dân: 089087006905 cấp ngày 07/7/2022; Quốc tịch: Việt Nam; Dân

tộc: Kinh; Nơi cư trú: Khóm VQ, thị trấn X, huyện CP, tỉnh An Giang; Trình độ

văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Không; Tiền án, tiền sự: Không; Con ông: Phạm

Thành C và bà Trương Thị Ánh H.

Anh Q có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lê Trung Thành. Chức vụ: Phó Trưởng

phòng - Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội huyện CP, tỉnh An Giang.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CP: Ông Nguyễn Văn Thành -

Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 03/02/2023, Phạm Thành Q cùng bạn là

Thiều Chí Linh điều khiển xe mô tô đi từ nhà tại khóm Vĩnh Quới, thị trấn X,

huyện CP, tỉnh An Giang đến khu vực xã TMT, huyện CP, tỉnh An Giang để kiếm

bắp chuối chặt bán lấy tiền tiêu xài. Đến đoạn kênh 7 – 8, đường tỉnh lộ 945, Q và

Linh đậu xe bê lề đường và lấy ma túy (heroin) ra để chích thì bị Tổ tuần tra của

Công an xã TMT bắt quả tang, mời về trụ sở làm việc. Tại đây, Q đã thừa nhận

hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình.

Cùng ngày, Công an xã TMT đã đưa Q đi xét nghiệm tìm chất ma túy và

xác định tình trạng nghiện của Q. Kết quả xét nghiệm của Trạm y tế xã TMT và Trung tâm y tế huyện CP xác định Phạm Thành Q dương tính với ma tuý, loại ma tuý sử dụng là heroin (Morphine). Do đó, Công an xã Thanh Mỹ Tây đã lập hồ sơ, thông báo, giải thích và cho Q cam kết trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày 03/02/2023 đến ngày 08/02/2023 đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện.

Ngày 24/02/2023, do Q không thực hiện đăng ký cai nghiện ma túy tự

nguyện theo cam kết nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn X đã lập biên bản vi phạm về hành vi không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy (sau đây gọi tắt là Nghị định 116/NĐ-CP của Chính phủ) và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Q.

Đồng thời, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị trấn X ban hành quyết định số

05/QĐ-QLNN ngày 24/02/2023 về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Thành Q và giao Q cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh An Giang quản lý kể từ ngày 24/02/2023 (theo Biên bản về việc giao, nhận người bị quản lý lập ngày 24/02/2023) do người thân không đồng ý quản lý Q trong thời gian làm thủ tục đề nghị.

Ngày 27/02/2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn X ban hành văn bản số

05/ĐN-CNBB đề nghị Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện CP xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Thành Q.

Ngày 01/3/2023, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện CP ban

hành văn bản số 64/ĐN-CNBB về việc đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Thành Q.

Tại phiên họp:

- Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện CP: Giữ nguyên

đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Thành Q tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CP phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện

pháp xử lý hành chính: Quá trình thụ lý hồ sơ, chuẩn bị mở phiên họp và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký, Cơ quan đề nghị và người tham gia phiên họp đã thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân.

+ Về đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của

Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện CP về việc đưa Phạm Thành Q vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có cơ sở nên đề nghị Toà án chấp nhận. Về thời hạn áp dụng, đề nghị áp dụng từ 16 tháng đến 18 tháng.

- Người bị đề nghị Phạm Thành Q trình bày: Thừa nhận có hành vi sử dụng

trái phép chất ma túy từ năm 2013, loại ma túy sử dụng là heroin (Morphine), hình

thức sử dụng là chích, đã từng tự đăng ký cai nghiện tự nguyện, trở về sinh sống

tại địa phương và tái nghiện. Đến ngày 03/02/2023 thì bị Công an xã TMT mời về

làm việc như đã trình bày, không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện theo cam

kết nên bị lập biên bản vi phạm và đang bị quản lý tại Cơ sở điều trị cai nghiện ma

túy tỉnh An Giang từ ngày 24/02/2023 đến nay. Nhân thân chưa có tiền án, tiền sự.

Trong thời gian bị quản lý, chấp hành tốt nội quy, quy định tại Cơ sở. Nay, xin

giảm nhẹ thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để sớm trở

về với gia đình.

Căn cứ các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp, trên cơ

sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của những người tham gia phiên

họp, của Kiểm sát viên.

XÉT THẤY:

Về thủ tục tố tụng:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện CP đối với Phạm Thành Q đã thực hiện đúng, đầy đủ, đảm bảo tính pháp lý theo trình tự, thủ tục được quy định tại Điều 103, Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 40, Điều 41, Điều 42, Điều 43 của Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ;

Tòa án nhân dân huyện CP, tỉnh An Giang có thẩm quyền xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng theo quy định tại Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 3 Pháp lệnh số 03/ 2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội ban hành về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Về nội dung vụ việc:

Do Phạm Thành Q có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên ngày 03/02/2023 Công an xã TMT đã mời về trụ sở làm việc, đưa Q đi xét nghiệm tìm chất ma túy và xác định tình trạng nghiện. Kết quả xét nghiệm Q dương tính với chất ma túy trong cơ thể, loại ma túy sử dụng là Heroin (Morphine). Trong quá trình lập hồ sơ, Q thừa nhận mình đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý vào ngày 03/02/2023 nên bị Công an xã TMT mời về trụ sở làm việc, lập hồ sơ và thông báo, giải thích cho Q cam kết đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày 03/02/2023 đến ngày 08/02/2023. Khi hết thời hạn cam kết, do Q không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nên đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn X lập biên bản vi phạm hành chính, đồng thời lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Q và giao Q cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh An Giang quản lý trong thời gian làm thủ tục đề nghị. Tại phiên họp, Phạm Thành Q thừa nhận về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình từ năm 2013 và tái nghiện nên có đủ căn cứ xác định Phạm Thành Q là người nghiện ma túy.

Xét thấy, Q là người đủ 18 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hành chính, có khả năng nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là sai trái, vi phạm pháp luật nhưng Q vẫn cố ý sử dụng. Vì hoàn cảnh gia đình, đáng lẽ Q phải chăm lo đi làm kiếm tiền, phụ giúp gia đình, sống có ích cho xã hội, làm gương cho con, nhưng Q lại tụ tập bạn bè, sử dụng ma túy nhiều lần, dẫn đến bị nghiện, đã đi cai nghiện tự nguyện nhưng vẫn tái nghiện. Khi bị Công an xã TMT bắt quả tang có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý vào ngày 03/02/2023, Q đã không thực hiện đăng ký cai nghiện tự nguyện theo cam kết. Gia đình, người thân của Q không đồng ý quản lý Q tại nơi cư trú trong thời gian làm thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc. Do đó, cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Thành Q là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 và Điều 33 của Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.

Để tạo điều kiện cho Q có thời gian điều trị, chữa bệnh, cai nghiện ma túy, học

tập, lao động để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội nên xét đề nghị của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện CP về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Q là có cơ sở chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 95 của Luật xử lý vi phạm hành chính và phù hợp với ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CP.

Về thời gian áp dụng, cần xem xét trong quá trình lập hồ sơ và tại phiên họp,

Q đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên có xem xét giảm nhẹ một phần thời hạn áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Q là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Đồng thời, trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Q được giao cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh An Giang quản lý kể từ ngày 24/02/2023. Do đó căn cứ vào khoản 3 Điều 44 của Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ, thời gian quản lý tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh An Giang của Phạm Thành Q được trừ vào thời hạn cai nghiện bắt buộc.

Vì các lẽ trên,

Áp dụng Điều 6, khoản 2 Điều 9; Điều 95, Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều

105, Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính;

Áp dụng Điều 27, khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021;

Áp dụng Điều 3, Điều 23, Điều 24, Điều 30, Điều 31, Điều 32 của Pháp lệnh

số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội ban hành về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Áp dụng Điều 33, Điều 40, Điều 41, Điều 43, khoản 3 Điều 44 của Nghị định

116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Phạm Thành Q.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 16 tháng (Mười sáu tháng) kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ (quản lý) để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 24/02/2023).

3. Người bị áp dụng có quyền khiếu nại trong thời hạn là 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện CP, tỉnh An Giang có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện CP có quyền kháng nghị trong thời hạn là 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện CP, tỉnh An Giang phối hợp với Công an huyện CP, tỉnh An Giang thi hành quyết định./.

Cỡ chữ