- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tâm"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Trịnh Bá T,
- Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 24/2024/QĐST-DS | Thọ Xuân, ngày 26 tháng 4 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Minh Tiến
Thư ký phiên họp: Bà Trần Lê Diệu Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên họp: Ông Vũ Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 97/2023/TLST-DS ngày 29 tháng 11 năm 2023 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 03/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Trịnh Bá T, sinh năm 1988, địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị S, sinh năm 1989, nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Tại đơn yêu cầu và bản tự khai, người yêu cầu là anh Trịnh Bá T trình bày: Anh và chị Trần Thị S có quan hệ là vợ chồng, lấy nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện N vào ngày 17/3/2017. Qúa trình chung sống giữa vợ chồng có xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng về tình cảm trong gia đình. Đến tháng 4 năm 2020 thì chị S tự ý bỏ nhà ra đi đến nay không về; khi đi không nói gì với anh và gia đình. Anh và gia đình đã tìm kiếm chị S ở nhiều nơi nhưng không biết chị S, hiện đang ở đâu, làm gì. Đến nay anh vẫn không có tin tức gì về chị S, nên anh làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân giải quyết tuyên bố chị Trần Thị Sáu mất tích và có đơn yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm đối với chị S theo quy định.
Tại quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 97/2023/QĐ-TA ngày 01/12/2023 Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân đã thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Trần Thị S theo đúng quy định, cụ thể: Tại Báo Nhân dân các số 24873, 24874, 24875 ra vào các ngày 12, 13, 14 tháng 12 năm 2023, cũng như Đài tiếng nói Việt Nam phát lúc 17 giờ 30 phút các ngày 15, 16, 17 tháng 12 năm 2023 đã nhắn tin, phát tin tìm kiếm chị Trần Thị S theo quy định, nhưng đến nay đã hơn 04 (bốn) tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên vẫn không có tin tức về chị Trần Thị S.
Tại phiên họp, Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người yêu cầu đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết: Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 387, 388, 389 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1, 3 Điều 68 Bộ luật Dân sự,
1. Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Trịnh Bá T. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân tuyên bố chị Trần Thị S là người mất tích.
2. Về lệ phí giải quyết việc dân sự và chi phí đăng tin tìm kiếm: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Trịnh Bá T yêu cầu tuyên bố chị Trần Thị S, sinh năm 1989, có HKTT và nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Trần Thị S được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên họp không có lý do, nên căn cứ khoản 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp.
Về nội dung yêu cầu: Anh Trịnh Bá T và chị Trần Thị S có quan hệ là vợ chồng hợp pháp. Trong quá trình chung sống giữa vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn về tình cảm; đến tháng 4 năm 2020 chị S đã bỏ nhà đi khỏi địa phương, không có tin tức. Từ khi chị S bỏ đi đến nay đã hơn 2 năm, anh T (là chồng) đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức về chị S, không biết chị S hiện đang ở đâu, làm gì, còn sống hay đã chết, nên anh T làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân tuyên bố chị Trần Thị S mất tích và có đơn yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm đối với chị S. Toà án nhân dân huyện Thọ Xuân đã thụ lý việc dân sự và ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Trần Thị S, đồng thời đã thực hiện các thủ tục thông báo tìm kiếm theo quy định trên Đài tiếng nói Việt Nam và trên B. Ngày đăng, phát thông báo tìm kiếm chị Trần Thị S lần đầu tiên là ngày 12/12/2023, tính đến nay đã hơn 04 (bốn) tháng nhưng vẫn không có tin tức gì về chị Trần Thị S.
Từ những phân tích nêu trên, xác định: Chị Trần Thị S đã bỏ đi biệt tích từ tháng 4 năm 2020 đến nay là hơn 2 năm; Anh Trịnh Bá T (là chồng) đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, nhưng vẫn không có tin tức xác thực về chị Trần Thị S. Do đó, có căn cứ chấp nhận đơn yêu cầu của anh Trịnh Bá T và ý kiến đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tại phiên họp, tuyên bố chị Trần Thị S mất tích, là phù hợp.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Trịnh Bá T phải nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, khoản 3 Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1, 3 Điều 68 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Trịnh Bá T,
Tuyên bố chị Trần Thị S, sinh năm 1989, nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa mất tích.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Trịnh Bá T phải nộp 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng, anh T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0016435 ngày 29/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân. Như vậy, anh Trịnh Bá T đã nộp đủ.
- Quyền kháng cáo: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự được quyền kháng cáo quyết định trong hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết.
- Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Thọ Xuân; - Chi cục THADS huyện Thọ Xuân; - P. kiểm tra nghệp vụ và THA, TAND tỉnh Thanh Hóa; - Người yêu cầu; - Người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan; - UBND xã Trường Xuân; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lê Minh Tiến |