vanban.org

Quyết định 24/2023/QĐ-TA

TAND TX. Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước Tuyên án 22/06/2023 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Bà Nguyễn Thị Trúc M (tên gọi khác: Không), sinh năm 1999 tại An Giang; nơi đăng ký thường trú ấp N, xã P, huyện T, tỉnh G; chổ ở hiện nay khu phố B, phường B, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp:…

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Phước - Địa chỉ: Ấp 5, xã L, thị xã T, tỉnh Bình Phước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Thị Trúc M"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Bà Nguyễn Thị Trúc M (tên gọi khác: Không), sinh năm 1999 tại An Giang; nơi đăng ký thường trú ấp N, xã P, huyện T, tỉnh G; chổ ở hiện nay khu phố B, phường B, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp:…
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 107 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 24/2023/QĐ-TAĐồng Xoài, ngày 22 tháng 6 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

-----------------------------------------------

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán – Chủ trì phiên họp: Ông Nguyễn Đức Hùng

2. Thư ký phiên họp: Ông Đào Hùng Thái

Ngày 22 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Bình Phước tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với việc hành chính thụ lý số 22/2023/TB-TLHS ngày 08 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định mở phiên họp số 22/2023/QĐ-TA ngày 13 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Bình Phước đối với:

Họ và tên: Bà Nguyễn Thị Trúc M (tên gọi khác: Không), sinh năm 1999 tại An Giang; nơi đăng ký thường trú ấp N, xã P, huyện T, tỉnh G; chổ ở hiện nay khu phố B, phường B, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1976.

Nhân thân:

Ngày 16 tháng 3 năm 2023, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B, thành phố Đ ra Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy số 33/QĐ-UBND trong thời hạn 01 (Một) năm, kể từ ngày 16/3/2023.

Người bị đề nghị: Bà Nguyễn Thị Trúc M (vắng mặt tại phiên họp).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Phạm Thị N– Phó Trưởng phòng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ: Bà Đặng Thị H- Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Bà Nguyễn Thị Trúc M đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, tại phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 15 tháng 3 năm 2023 của Công an phường B, thành phố Đ kết luận bà Nguyễn Thị Trúc M dương tính với ma túy đá. Ngày 16 tháng 3 năm 2023, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B, thành phố Đ ra Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy số 33/QĐ-UBND trong thời hạn 01 (Một) năm, kể từ ngày 16/3/2023. Tuy nhiên, trong thời gian quản lý của Ủy ban nhân dân phường B, thành phố Đ thì đến ngày 06/4/2023 bà Nguyễn Thị Trúc M lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 07 tháng 4 năm 2023 của Trạm y tế phường B, thành phố Đ kết luận bà Nguyễn Thị Trúc M: Có nghiện ma túy tổng hợp dạng đá (Methamphetamine). Do trong thời gian quản lý mà người sử dụng trái phép chất ma túy bà Nguyễn Thị Trúc M được xác định còn nghiện túy nên ngày 10/4/2023 Ủy ban nhân dân phường B ra Quyết định số 54/QĐ-UBND dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại biên bản làm việc vào lúc 14 giờ 10 phút ngày 10/4/2023 tại Công an phường B, thành phố Đ bà Nguyễn Thị Trúc M từ chối tham gia cai nghiện tự nguyện tại gia đình và cộng đồng. Do bà Nguyễn Thị Trúc M từ chối tham gia cai nghiện tự nguyện tại gia đình và nơi cư trú nên căn cứ khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi bổ sung năm 2020; khoản 1 Điều 32 của Luật phòng chống ma túy thì bà Nguyễn Thị Trúc M thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Xét thấy, tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Đ bà Phạm Thị N có ý kiến: Bà Nguyễn Thị Trúc M đã bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy trong thời hạn 01 (Một) năm, tuy nhiên bà M không tự cai nghiện được nên cần đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian là 24 (Hai mươi bốn) tháng để bà Nguyễn Thị Trúc M đủ thời gian cai nghiện, từ bỏ ma túy, trở về xã hội làm người công dân tốt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ tham gia phiên họp nêu ý kiến: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý hồ sơ cho đến khi mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Đ, đưa bà Nguyễn Thị Trúc M vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 24 (Hai mươi bốn) tháng.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào ý kiến đề xuất của những người tham gia, nhận thấy:

Hồ sơ đề nghị được lập đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 41 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 và Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020.

Thời hiệu để áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà Nguyễn Thị Trúc M đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 6 và Điều 7 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020.

Xét thấy, bà Nguyễn Thị Trúc M là người đã thành niên, có đủ năng lực hành vi dân sự và nhận thức được rằng ma túy là chất gây nghiện khi đưa vào cơ thể làm thay đổi trạng thái ý thức và hành vi của người đó, được Nhà nước độc quyền quản lý và cấm tàng trữ, sử dụng trái phép. Nhưng, để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân bà Nguyễn Thị Trúc M vẫn cố tình tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy.

Hành vi của bà Nguyễn Thị Trúc M không những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của chính bản thân bà M mà nó còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, để đảm bảo an toàn cho xã hội, tránh phát sinh các tệ nạn xã hội khác tại địa phương đồng thời tạo điều kiện cho bà Nguyễn Thị Trúc M có cơ hội sửa chữa bản thân, đoạn tuyệt với ma túy, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, cần thiết phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà Nguyễn Thị Trúc M.

Xét đề nghị của Phòng Lao động –Thương binh và xã hội thành phố Đ; Ý kiến của Kiểm sát viên về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà Nguyễn Thị Trúc M cùng các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ là phù hợp với quy định tại Điều 95 và Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020 nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 95; Điều 96; Điều 105; Điều 107 và Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020; Căn cứ Điều 21; Điều 23; Điều 24; Điều 31; Điều 32 và Điều 33 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Căn cứ Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Bà Nguyễn Thị Trúc M (tên gọi khác: Không), sinh năm 1999 tại An Giang; nơi đăng ký thường trú ấp N, xã P, huyện T, tỉnh G; chổ ở hiện nay khu phố B, phường B, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1976.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Nơi chấp hành: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Phước - Địa chỉ: Ấp 5, xã L, thị xã T, tỉnh Bình Phước.

3. Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Đ có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 (Ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

Bà Nguyễn Thị Trúc M có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 (Ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết công khai theo quy định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố Đ; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Đ; Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Phước; Ủy ban nhân dân phường B, thành phố Đ và bà Nguyễn Thị Trúc M chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ