vanban.org

Quyết định 24/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Thị Y và anh Lê Đình T.

Về con chung: Giao chị Vũ Thị Y tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của vợ chồng là cháu Lê Cát T, sinh ngày 21/12/2021, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người nuôi co… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Thị Y và anh Lê Đình T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRIỆU SƠN
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2023/HNGĐ-ST
Ngày 31/5/2023
Về việc:“Ly hôn,
tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUỴÊN TRIỆU SƠN – TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Hợp

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Xuân Anh

2. Ông Lê Hữu Thủy

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Ngọc Thành, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn tham gia phiên tòa: Nguyễn Thị Lan- Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” thụ lý số 70/2023/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2023/QĐXX- ST ngày 26 tháng 4 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2023 ngày 18/5/2023 giữa các đương sự.

Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Y, sinh năm 1992

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa

Bị đơn: Anh Lê Đình T, sinh năm 1989

Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Nguyên đơn chị Vũ Thị Y có mặt, bị đơn anh Lê Đình T vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa. Nguyên đơn chị Vũ Thị Y trình bày: Chị và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 25/6/2021 tại Ủy ban nhân dân xã Thái Hòa, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa, sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, anh anh Tuấn tính ham chơi và sử dụng ma túy, không quan tâm đến gia đình vợ con, chị động viên góp ý anh T không nghe mà cỏn có lời lẽ thiếu tế nhị xúc phạm chị và bố mẹ chị dẫn đến vợ chồng hay to tiếng xúc phạm lẫn nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình, khuyên giải nhiều lần nhưng ngày càng trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02/2023 đến nay, không ai quan tâm đến ai, nay chị Yến xét thấy vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống chung không hòa hợp và hạnh phúc, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

Về con chung: Chị Y trình bày vợ chồng có một con chung cháu Lê Cát T, sinh ngày 21/12/2021, từ khi vợ chồng ly thân cháu Tường ở với chị, nay vợ chồng ly hôn, chị Yến xin tiếp tục nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ: Chị Y không yêu cầu giải quyết.

Đối với bị đơn: Tại bản tự khai (BL 20) trình bày. Cơ sở kết hôn hôn và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng anh thống nhất như chị Y trình bày, anh thừa nhận cuộc sống vợ chồng có mâu thuẫn và đã sống ly thân lâu nay, không ai quan tâm đến ai, nay chị Y xin ly hôn anh xác định vợ chồng đã sống ly thân, không còn tình cảm và khả năng đoàn tụ, anh đồng ý ly hôn với chị Y

Về con chung: Anh T thống nhất vợ chồng có một con chung như chị Y trình bày là đúng, từ khi vợ chồng ly thân cháu Lê Cát T ở với chị Y, sinh hoạt khỏe mạnh bình thường, nay vợ chồng ly hôn anh đồng ý để chị Y tiếp tục nuôi con.

Về tài sản và nợ: Anh T thống nhất ý kiến chị Y, không yêu cầu Tòa giải quyết.

Ý kiến của đại diện viện kiểm sát huyện Triệu Sơn phát biểu như sau:

*> Việc việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Xác định đúng quan hệ pháp luật, đúng tư cách người tham gia tố tụng, tiến hành các hoạt động tố tụng như ra thông báo thụ lý, hòa giải, tiến hành xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ, tống đạt văn bản tố tụng, giao hồ sơ cho viện kiểm sát nghiên cứu đúng trình tự tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa HĐXX đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.

Việc tuân theo pháp luật của Thư ký phiên tòa: Thư ký phiên tòa thực hiện đúng đủ trình tư thủ tục tố tụng.

Việc chấp hành pháp luật của đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa các đương sự thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự.

*> Về nội dung:

Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 55 Luật hôn nhân gia đình công nhận thuận tình ly hôn giữa các đương sự

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, giao chị Y tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Cát Tường, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con và được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.

Về tài sản và công nợ: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét

Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 147 BLTTDS, Nghị quyết số 326/ 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án, buộc nguyên đơn sự phải chịu án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Chị Vũ Thị Y yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn giải quyết ly hôn, nuôi con chung với và anh Lê Đình T, anh T có hộ khẩu và đang cư trú tại xã Thái Hòa, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Quá trình giải quyết, tại bản tự khai của bị đơn (Bl 20) thể hiện các nội dung hôn nhân, con cái bị đơn đồng ý ly hôn và đồng ý để chị Y tiếp tục nuôi con theo yêu cầu của chị Y. Tuy nhiên Tòa án báo hòa giải nhiều lần để lập biên bản hòa giải và ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành cho các đương sự nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do, nên Tòa án không lập được biên bản hòa giải thành, như vậy vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật dân sự, do đó Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Về hôn nhân: Chị Vũ Thị Y và anh Lê Đình T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn 25/6/2021 tại Ủy ban nhân dân xã Thái Hòa, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa nên là hôn nhân hợp pháp, sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm anh T tính ham chơi, không quan tâm đến vợ con, gia đình, chị Yến góp ý anh T không nghe nên vợ chồng hay có lời lẽ xúc phạm lẫn nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình, bạn bè động viên, khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả mà ngày càng trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02/2022 đến nay, không ai quan tâm đến ai, cuộc sống của ai người đó tự lo, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Y vẫn thiết tha xin ly hôn, tại bản tự khai anh T cũng đồng ý ly hôn.

Xét thấy tình trạng hôn nhân của vợ chồng mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị Y xin ly hôn anh T là có căn cứ, phù hợp với kết quả xác minh của Tòa án, phù hợp với ý kiến của bị đơn, phù hợp với quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Y và sự thống nhất ly hôn của các đương sự, xử cho chị Y được ly hôn anh T.

Về con chung: Vợ chồng thống nhất có một con chung cháu Lê Cát T, sinh ngày 16 tháng 10 năm 2021, nay ly hôn chị Y xin tiếp tục nuôi dưỡng và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Tại bản tự khai anh Tuấn thống nhất và đồng để chị Yến tiếp tục nuôi con

Xét thấy yêu cầu tiếp tục trực tiếp nuôi con của chị Y là chính đáng vì cháu Cát T mới hơn một tuổi, từ khi ly thân cháu Cát T ở với chị Y. Việc các đương sự thống nhất về người trực tiếp nuôi con là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với kết quả xác minh của Tòa án, phù hợp với quy định của luật hôn nhân và gia đình, phù hợp với ý kiến của anh T Hội đồng xét xử chấp nhận sự thống nhất giao nuôi con của vợ chồng, giao chị Y tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung của vợ chồng cháu Lê Cát T, sinh ngày 21 tháng 12 năm 2021.

Về cấp dưỡng nuôi con, chị Y không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Vì lợi ích con trẻ khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được ngăn cản, nhưng hai bên không được lợi dụng việc nuôi con, thăm con để cản trở hoặc làm ảnh hưởng xấu đến việc trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Cát T.

Về tài sản, nợ: Các bên đều thống nhất không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn chị Vũ Thị Y phải chịu án phí ly hôn sơ theo quy định của pháp luật, được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí.

Vì các lý lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 4 Điều 147, Điều 271, 273, 280 của Bộ luật tố Tụng dân sự; Các Điều 51, 55, 57, 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý về án phí, lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Thị Y và anh Lê Đình T.

Về con chung: Giao chị Vũ Thị Y tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của vợ chồng là cháu Lê Cát T, sinh ngày 21/12/2021, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng nuôi con, anh Tuấn được quyền và nghĩa vụ đi lại, thăm nom chăm sóc con chung, không ai được cản trở, nhưng hai bên không được lợi dụng việc nuôi con, thăm con để cản trở hoặc làm ảnh hưởng xấu đến việc trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Cát Tường.

Về án phí: Chị Vũ Thị Y phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2021/00016940 ngày 21 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa, chị Y đã nộp đủ.

Quyền kháng cáo, kháng nghị: Chị Y có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh T vắng mặt, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết, thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ