- Tranh chấp gì? "Hành chính"
- Căn cứ chính? Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ C | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 24/2022/QĐ-TA | N, ngày 16 tháng 9 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N, THÀNH PHỐ C
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
- Thẩm phán: Bà Phạm T
- Thư ký phiên họp: Bà Trần Thùy M
Ngày 16 tháng 9 năm 2022, tại Tòa án nhân dân quận N tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 22/QĐ-TA ngày 30 tháng 8 năm 2022, đối với:
Họ và tên: Trần Hoài A, giới tính: Nam, Sinh năm: 1993.
CCCD số: 09209301XXX Ngày cấp: 25/4/2022 Nơi cấp: Cục Cảnh sát
DA tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hóa: 9/12.
Nguyên quán: An Bình, N, C.
Hộ khẩu thường trú: phường C1, quận N, thành phố C.
Nghề nghiệp: Không.
Tiền án: Không. Tiền sự: 01.
Con ông Trần Văn B và bà Bùi Kim T.
Người bị đề nghị có mặt tại phiên họp.
* Có sự tham gia của:
1. Cơ quan đề nghị: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận N: Ông Lý Hoàng C (Có mặt).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhA dA quận N tham dự phiên họp: Bà Lê Thị N – Kiểm sát viên. (Có mặt).
NHẬN THẤY:
Trần Hoài A là đối tượng đang được quản lý sau cai nghiện. Trong thời gian quản lý, Trần Hoài A vẫn còn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Cụ thể vào ngày 14/7/2022, A có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy nên bị Công an phường C1 mời đến tiến hành việc xét nghiệm nước tiểu, kết quả A dương tính với ma túy. Công an phường C1 đề nghị tiến hành xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Trần Hoài A và vào ngày 18/7/2022, Trạm y tế phường C1 đã xác định A là người nghiện ma túy. Sau khi có kết quả xác định tình trạng nghiện, Công an phường C1 đã thông báo về việc A được quyền đăng ký cai nghiện tự nguyện nhưng A không thực hiện đăng ký cai nghiện tự nguyện.
Trên cơ sở chứng cứ thu thập được, có đủ cơ sở để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận N ra văn bản số 819/ĐN-CCBB ngày 26/7/2022 đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Trần Hoài A vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận N giữ nguyên quan điểm, đề nghị đưa Trần Hoài A vào cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng.
Người bị đề nghị trình bày: Bản thân nhận biết việc sử dụng ma túy là sai trái, cũng muốn đoạn tuyệt với cơn nghiện nhưng do bị bạn bè lôi kéo, hiện nay gia đình đang khó khăn, vợ chồng đang phải nuôi các con còn nhỏ, ba ruột vừa mới qua đời, bản thA sẽ cương quyết cai nghiện, xin Tòa án giảm bớt thời hạn.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính và ý kiến về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cho rằng:
Việc Tòa án thụ lý, giải quyết và đề nghị đưa Trần Hoài A vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có cơ sở và đúng theo trình tự quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án nhA dA quận N chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận N áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Hoài A với thời hạn 12 tháng.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Chủ tọa phiên họp nhận định:
Hồ sơ đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội quận N cung cấp đầy đủ, hợp pháp, đủ cơ sở pháp lý để Tòa án thụ lý và mở phiên họp xem xét. Về thời hiệu, thẩm quyền và trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Hoài A là phù hợp với quy định của các Điều 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.
Trần Hoài A là đối tượng đang được quản lý sau cai nghiện. Tuy nhiên trong thời gian quản lý, A vẫn còn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, lần sử dụng gần đây nhất là ngày 10/7/2022. Hành vi này của A là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến trật tự tại địa phương. Đến ngày 18/7/2022, Trạm y tế phường C1 đã xác định A vẫn còn nghiện ma túy và A không thực hiện việc đăng ký cai nghiện tự nguyện.
Trần Hoài A là người đã thành niên, có đầy đủ nhận thức, hiểu biết tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng nhưng vẫn mua ma túy về sử dụng trái phép. Việc cai nghiện và áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện không phát huy tác dụng, không thể giúp A cai nghiện được với chất ma túy. Do đó, cần đưa A vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian nhất định để giúp A cai nghiện đối với chất ma túy đạt hiệu quả cao nhất.
Xét về tính chất mức độ nghiện và hoàn cảnh của người bị đề nghị thì thấy rằng: thời hạn mà đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận N đề nghị đối với A là phù hợp.
Đối chiếu Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính thì việc đề nghị đưa Trần Hoài A vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Áp dụng:
- Các Điều 95,96,105 và 107 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020.
- Các Điều 27, 28, 32 Luật phòng, chống ma túy năm 2021.
- Các Điều 1, 3, 19 và 22 Pháp lệnh trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
- Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Hoài A.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 tháng, tính từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận N có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhA dA quận N có quyền kháng nghị quyết định; Người bị đề nghị có quyền khiếu nại quyết định trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định này.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an quận N có trách nhiệm phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận N thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - Người bị áp dụng; - Trưởng CA quận N; - Trưởng Phòng LĐTBXH quận N; - VKSND quận N; - Cơ sở cai nghiện ma túy TPCT; - Lưu hồ sơ vụ án; | THẨM PHÁN (đã ký) |