vanban.org

Quyết định 24/2022/QĐ-TA

TAND huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 19/09/2022 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại

Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 T; Địa chỉ: xã H, huyện N, T đối với Mai Văn S. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai bốn) tháng,

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Mai Văn Sỹ"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH T

TÒA ÁN

NHÂN DÂN H

UYỆN T TỈNH T ––––––––––––––– Số: 24 /2022/QĐ-TA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ––––––––––––––––––––––––––––––– T, ngày 19 tháng 9 năm 2022 QUYẾT ĐỊNH Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH T

Với thành phần những người tiến hành phiên họp gồm có: 1. Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Cao Hồng Đức 2. Thư ký phiên họp: Ông Lê Văn Hân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T. Ngày 19 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh T tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định mở phiên họp số 24/QĐ-TA ngày 14 tháng 9 năm 2022 đối với: Họ và tên: Mai Văn S; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 06/11/1987 Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn 3 Phúc Bồi, xã T, huyện T, tỉnh T. Con ông: Mai Văn Dvà bà Trần Thị N Tiền án: Không Tiền sự: 01 Tiền sự áp dụng biện pháp xử lý hành chính, giáo dục tại Xã, Phường, Thị trấn. Vắng mặt tại phiên họp. Có sự tham gia của: 1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Hà Duyên N - Phó Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T; có mặt. 2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh T tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Tỉnh - Kiểm sát viên; có mặt.

NHẬN THẤY:

Mai Văn S sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2016 và chất ma túy S sử dụng trái phép là Hê rô in, hình thức sử dụng là chích. Ngày 23/8/2022 Mai Văn S, có kết quả xét nghiệm nước tiểu có nghiện ma túy, loại Heroin. Mai Văn S không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, uống thuốc điều trị Methanol. Ngày 31/8/2022 đã bị Chủ tịch ủy ban nhân dân xã T, huyện T lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Như vậy Mai Văn S thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 49 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính; klhoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy. Ngày 01/9/2022 UBND xã T, huyện T đã tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Mai Văn S theo quy định. Ngày 12/9/2022 Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T có Công văn số 194/ĐN-CNBB đề nghị Tòa án nhân dân huyện T xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Mai Văn S. Tại phiên họp đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án nhân dân huyện T áp dụng biệp pháp xử lý hành chính đưa vào sơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Mai Văn S, thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T phát biểu ý kiến: Về trình tự lập hồ sơ: Hồ sơ đã được cơ quan đề nghị lập đầy đủ thủ tục, trình tự theo quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính, khoản 56 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1Điều 41 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên họp: Thẩm phán thực hiện đúng quy định của Pháp lệnh số 09/2014 và văn bản pháp luật có liên quan về thụ lý hồ sơ đề nghị. Thẩm phán và Thư ký phiên họp đã thực hiện đúng quy định về trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính quy định tại các Điều 11,12,16 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Người bị đề nghị trong quá trình giải quyết vụ việc kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Tòa án mở phiên họp đều thực hiện quy định của pháp luật. Xét thấy đủ điều kiện áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Mai Văn S. - Về thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đúng theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính, vụ việc còn thời hiệu. - Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã tuân thủ theo quy định tại Điều 102: Điều 103; Điều 104; Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 1 Luật sửa đổi. bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 42, Điều 43 Nghị định 116. Viện kiểm sát nhân dân huyện T đề nghị Tòa án nhân dân huyện T giải quyết theo hướng chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện T về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm - Giáo dục Lao động xã hội tỉnh T đối với Mai Văn S. Đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 6; Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; Điều 104; Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 49, 56, 57 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy, thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ 20 tháng đến 24 tháng. Sau khi kiểm tra, xem xét các tài liệu có trong hồ sơ, sau khi đại diện phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện T trình bày nội dung đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Mai Văn S và đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến. XÉT THẤY: Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Mai Văn S được UBND xã T, huyện T lập đúng trình tự, thủ tục. Phòng Lao động- Thương binh và xã hội huyện T chuyển hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc cho Tòa án nhân dân huyện T xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật của Nghị định số 116/2021/NĐ- CP ngày 21 tháng 12 năm 2021. Mai Văn S là lao động tự do, sử dụng trái phép chất ma túy là Hê rô in từ năm 2016 đến nay và đã bị Chủ tịch UBND xã T, huyện T, tỉnh T ra Thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc do quá thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày xác định tình trạng nghiện ma túy, Mai Văn S không thực hiện đăng ký hình thức cai nghiện tự nguyện với UBND xã Xuân Lập, vi phạm vào khoản 1, Điều 32 Luật phòng chống ma túy ngày 30/3/2021; Điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ- CP ngày 21/12/2021 “ Người nghiện ma túy không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện ” Ngày 01/9/2022 UBND xã Xuân Lập, huyện T đã tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Mai Văn S theo quy định. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6; Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; Điều 104; khoản 2 Điều 105; Điều 107 và Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 3; Điều 7; Điều 19; Điều 20; Điều 22; Điều 23, Điều 29; Điều 30; khoản 1 Điều 31; Điều 32 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Xét thấy cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mới có đủ điều kiện chăm sóc, cai nghiện đối với Mai Văn S. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH: 1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 T; Địa chỉ: xã H, huyện N, T đối với Mai Văn S. 2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. 3. Mai Văn S có quyền khiếu nại quyết định trong hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện T có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày Tòa án công bố

quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị. 5. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Công an huyện T, tỉnh T phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ