vanban.org

Quyết định 24/2021/QĐST-KDTM — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín; Địa chỉ: Số 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 8, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Năm Miện"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thoả thuận của các đương sự:
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN PHONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẮC NINH
Số: 24/2021/QĐST-KDTM
Yên Phong, ngày 25 tháng 3 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào biên bản hoà giải thành ngày 17 tháng 3 năm 2021 về việc các đương sự đã thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án Kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số: 14/2021/TLST- KDTM ngày 20/01/2021.

XÉT THẤY

Các thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản hòa giải thành về việc giải quyết toàn bộ vụ án là tự nguyện; nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH

1. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín;

Địa chỉ: Số 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 8, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch Diễm, Chức vụ: Tổng giám đốc; Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Bùi Thành Trung, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - Chi nhánh Bắc Ninh;

Người được uỷ quyền lại:

1. Ông Đào Quang Tuệ, chức vụ: Trưởng phòng kiểm soát rủi ro;

2. Ông Đỗ Văn Lam, chức vụ: Phó phòng kiểm soát rủi ro; *Bị đơn: Ông Nguyễn Công Năm, sinh năm 1959;

Bà Trần Thị Miện, sinh năm 1959 (uỷ quyền cho ông Năm);

Cùng trú tại: Thôn Ngô Nội, xã Trung Nghĩa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. *Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Nguyễn Thị Nhung, sinh năm 1982.

Trú tại: Thôn Yên Từ, xã Trung Nghĩa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

2. Anh Nguyễn Công Tùng, sinh năm 1984;

3. Anh Nguyễn Công Hào, sinh năm 1987;

Cùng địa chỉ: Thôn Ngô Nội, xã Trung Nghĩa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

4. Chị Nguyễn Thị Thanh, sinh năm 1985;

Địa chỉ: Thôn Nghiêm Xá, TT. Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

(Chị Nhung, anh Tùng, anh Hào, chị Thanh uỷ quyền cho ông Năm)

2. Sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Về nghĩa vụ trả nợ: Ông Nguyễn Công Năm, bà Trần Thị Miện và chị Nguyễn Thị Nhung, anh Nguyễn Công Tùng, anh Nguyễn Công Hào và chị Nguyễn Thị Thanh (Bà Miện, chị Nhung, anh Tùng, anh Hào, chị Thanh uỷ quyền cho ông Năm) và Đại diện ngân hàng TMCP Sài gòn thương tín thống nhất thoả thuận: Ông Nguyễn Công Năm và bà Trần Thị Miện, có nghĩa vụ trả nợ ngay cho ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín cụ thể:

Theo hợp đồng tín dụng số LD 1917500187 ngày 25/6/2019; Nợ gốc còn: 615.000.000đồng; Tổng số tiền lãi (lãi trong hạn, quá hạn, lãi phạt chậm trả) là 81.767.154đồng; Tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi là 696.767.154đồng (tính đến hết ngày 17/3/2021).

Ông Nguyễn Công Năm và bà Trần Thị Miện phải tiếp tục chịu tiền lãi (Lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi phạt) từ ngày 18/3/2021 đến khi tất toán xong toàn bộ khoản vay theo hợp đồng tín dụng số tín dụng số: LD 1917500187 ngày 25/6/2019 và các văn bản thoả thuận sửa đổi bổ sung của hợp đồng tín dụng này giữa Ngân hàng Thương mại cổ Sài Gòn Thương Tín với ông Nguyễn Công Năm và bà Trần Thị Miện và theo quy định pháp luật.

Trường hợp ông Nguyễn Công Năm và bà Trần Thị Miện không thực hiện đầy đủ và đúng hạn nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản đảm bảo đã thế chấp để thu hồi toàn bộ số tiền còn nợ Ngân hàng theo quy định của pháp luật, cụ thể là: Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất thửa đất số 200, tờ bản đồ 01, diện tích 277 m2 (Theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất hiện nay là thửa số 174, tờ bản đồ số 14, diện tích 278m2), tại Thôn Ngô Nội, xã Trung Nghĩa, huyện Yên Phong mang tên hộ ông Nguyễn Công Năm, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số R516207, số vào sổ cấp GCN: 304/QSDĐ/420 do UBND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 18/11/2000, cho hộ ông Nguyễn Công Năm; theo hợp đồng thế chấp số LD/1717300034/HĐTCa ngày 23/6/2017 và các văn bản thoả thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp ký giữa các thành viên gia đình hộ ông Nguyễn Công Năm và Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín.

Trường hợp phát mại tài sản trên mà không đủ thanh toán cho khoản vay thì ông Nguyễn Công Năm và bà Trần Thị Miện phải tiếp tục nghĩa vụ trả nợ cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay. Trường hợp phát mại tài sản trên còn thừa ông bà được nhận lại phần còn thừa sau khi thanh toán xong toàn bộ khoản vay.

Sau khi ông Nguyễn Công Năm và bà Trần Thị Miện trả hết nợ gốc và lãi cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín thì Ngân hàng phải giải chấp tài sản của hộ ông Nguyễn Công Năm đã thế chấp tại ngân hàng theo đúng quy định pháp luật.

- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản: Ông Nguyễn Công Năm và bà Trần Thị Miện phải chịu 3.000.000đồng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản. Xác nhận Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín đã nộp 3.000.000đồng. Ông Nguyễn Công Năm và bà Trần Thị Miện phải trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín số tiền 3.000.000 đồng.

- Về án phí: Miễn toàn bộ án phí KDTM sơ thẩm cho ông Nguyễn Công Năm và bà Trần Thị Miện (Người cao tuổi). Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín 16.650.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: AA/2020/0001134 ngày 19/01/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

4. Trường hợp quyết định thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ