- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Phùng Xuân U"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Phùng Xuân U.
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 24/2021/QĐST-DS Ngày: 08/7/2021 V/v: Tuyên bố một người mất tích |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Y Kam Ênuôl.
- Thư ký phiên họp: Bà Hồ Thị Vi - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên họp: Ông Y Lương Byă – Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 58/2020/TLST-VDS ngày 14/12/2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”, theo quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 40/2021/QĐST-VDS ngày 28 tháng 6 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:.
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Phùng Xuân U, sinh năm 1971. Địa chỉ: 57 P, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị C, sinh năm 1976. Địa chỉ: Tổ dân phố 3, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và lời trình bày tại phiên họp của ông Phùng Xuân U như sau: Tôi và bà Trần Thị C chung sống với nhau từ tháng 5 năm 2009 và đăng ký kết hôn vào năm 2010. Do việc làm ăn không may nên vào ngày 05/9/2013 tôi bị Công an tỉnh Phú Yên khởi tố về tội “vi phạm các quy định về bảo vệ rừng’ sau đó tôi đã bị Tòa án xử phạt 04 năm tù, trong thời gian đầu vợ tôi vẫn thường xuyên thăm nuôi tôi hàng tháng, tuy nhiên vào ngày 13/9/2017 sau nhiều lần gọi về nhà không được với bà Trần Thị C, sau đó tôi gọi điện thoại cho con trai tôi là Phùng Ngô Q thì con trai tôi nói là bà Trần Thị C đã bỏ nhà đi từ ngày 12/9/2017. Từ thời gian đó tôi không hề nhận được tin tức gì từ bà Trần Thị C cũng như phía gia đình bà C, sau khi chấp hành án xong vào ngày 30/5/2018 và về địa phương sinh sống tôi cũng không nhận được tin tức gì từ bà Trần Thị C. Vì vậy, tôi đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tuyên bố bà Trần Thị C mất tích theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột phát biểu ý kiến: Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự, lời khai của người yêu cầu giải quyết việc dân sự, có cơ sở xác định bà Trần Thị C, sinh năm 1976, nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố 3, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, đã bỏ nhà đi từ năm 2017 đến nay không có tin tức gì, khi đi bà Trần Thị C không báo cho chính quyền địa phương biết nên gia đình và địa phương không biết hiện nay bà Trần Thị C đang ở đâu, làm gì. Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột cũng đã làm thủ tục tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng đến nay vẫn không có tin tức của bà Trần Thị C. Vì vậy, căn cứ vào Điều 68 Bộ luật Dân sự; Khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk chấp nhận đơn yêu cầu của ông Phùng Xuân U và tuyên bố bà Trần Thị C mất tích.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Xét yêu cầu tuyên bố bà Trần Thị C mất tích của ông Phùng Xuân U: Ông Phùng Xuân U và bà Trần Thị C chung sống với nhau từ tháng 5 năm 2009 và đăng ký kết hôn vào năm 2010. Tuy nhiên, đến ngày 12/9/2017 bà Trần Thị C đã bỏ nhà đi không báo cho gia đình và chính quyền địa phương biết nên gia đình và địa phương không biết hiện nay bà Trần Thị C đang ở đâu, làm gì.
Sau khi thụ lý và quá trình giải quyết việc dân sự Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 01/2021/QĐ-TA ngày 02/02/2021 và đã được thông báo trên phương tiện thông tin để tìm kiếm bà Trần Thị C làm cơ sở giải quyết việc dân sự. Đến nay đã hết thời hạn thông báo tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức gì của bà Trần Thì C. Do đó, yêu cầu tuyên bố bà Trần Thị C mất tích của ông Phùng Xuân U là có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.
Về lệ phí việc dân sự: Ông Phùng Xuân U phải chịu tiền lệ phí việc dân sự sơ thẩm và chi phí đăng thông báo, nhắn tin theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ nghị quyết số: 326/2009/UBTVQH, ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án.
Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Phùng Xuân U.
Tuyên bố: Bà Trần Thị C nơi cư trú cuối cùng tổ dân phố 3, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk mất tích.
- Về lệ phí: Ông Phùng Xuân U phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí việc dân sự. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng lệ phí mà ông Phùng Xuân U đã nộp tại chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, theo biên lai thu số AA/2019/0013464 ngày 03 tháng 12 năm 2020.
Ông Phùng Xuân U phải chịu 1.525.000 đồng lệ phí thông báo nhắn tin của Đài tiếng nói Việt Nam khu vực Tây Nguyên (theo phiếu thu tiền số 03, ngày 26/02/2021) và 900.000 đồng lệ phí đăng thông báo nhắn tin của Báo Tiền phong (theo phiếu thu ngày 26/02/2021), ông Phùng Xuân U đã nộp đủ.
- Người yêu cầu được quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND TP.BMT; - Chi cục THADS TPBMT; - UBND Ea Tam, TP.BMT; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Y Kam Ênuôl |