- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Chị Ngô Thị Hồng A - Anh Đỗ Thế C"
- Tòa quyết gì? Giữ nguyên quyết định giải quyết việc dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm;
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 36 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2019/QĐPT-DS | Hải Phòng, ngày 15 tháng 02 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
PHÚC THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Minh Phương
Các Thẩm phán:
Ông Cao Văn Tuấn
Ông Lương Ngọc Dũng
Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thị Hương Ngân - Thư ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp: Ông Hà Văn Dỏn - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng mở phiên họp phúc thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 07/ 2019/TLPT-DS ngày 05 tháng 01 năm 2019 về việc tuyên bố một người mất tích.
Do Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/2018/QĐST-VDS của Tòa án nhân dân huyện G, thành phố Hải Phòng bị kháng nghị.
Theo Quyết định mở phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự số 317/2019/QĐPT-DS ngày 18 tháng 01 năm 2019 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên họp số 421/TB-TA ngày 30 tháng 01 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Ngô Thị Hồng A, sinh năm 1987; nơi cư trú: Khu phố 1, thị trấn B, huyện B, tỉnh Hải Dương; có mặt;
- Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Anh Đỗ Thế C, sinh năm 1982; nơi cư trú cuối cùng: Thôn D, xã E, huyện G, thành phố Hải Phòng.
- Viện kiểm sát kháng nghị: Quyết định kháng nghị số 01/QĐKNPT-VKS-VDS ngày 06 tháng 12 năm 2018 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện G, thành phố Hải Phòng.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Chị Ngô Thị Hồng A và anh Đỗ Thế C kết hôn do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện G, thành phố Hải Phòng ngày 19-12-2005. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Đến năm 2006, anh C bỏ nhà đi cho đến nay không rõ địa chỉ. Hiện chị A và những người thân của anh C không biết anh C hiện đang sinh sống tại đâu. Kể từ khi anh C bỏ nhà đi đã hơn mười năm nay không có tin tức gì, quan hệ vợ chồng cũng chỉ tồn tại trên danh nghĩa nên để ổn định cuộc sống ngày 12-7-2018, chị A có đơn đề nghị Tòa án yêu cầu tuyên bố anh Đỗ Thế C mất tích.
Với nội dung như trên, tại Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/2018/QĐDS-DS ngày 29-11-2018, Tòa án nhân dân huyện G, thành phố Hải Phòng đã căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 366, Điều 371, Điều 372, Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 của Bộ luật Dân sự; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị Hồng A: Tuyên bố anh Đỗ Thế C, sinh năm 1982; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại Thôn D, xã E, huyện G, thành phố Hải Phòng mất tích.
Ngoài ra, Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự còn quyết định về lệ phí; tuyên quyền kháng cáo đối với các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06-12-2018, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện G, thành phố Hải Phòng kháng cáo toàn bộ nội dung Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu của chị Ngô Thị Hồng A yêu cầu tuyên bố anh Đỗ Thế C mất tích với lý do theo tài liệu do Công an huyện G cung cấp thể hiện: Anh Đỗ Thế C có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G ra Quyết định khởi tố vụ án ngày 13-12-2006 và Quyết định khởi tố bị can ngày 16-01-2007. Đến ngày 02-02-2007, Công an huyện G đã ra Quyết định truy nã đối với anh Đỗ Thế C. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện G căn cứ Điều 68 của Bộ luật Dân sự để tuyên bố anh Đỗ Thế C mất tích là không đúng với bản chất sự việc vì anh C cố tình trốn tránh pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Hội đồng phúc thẩm nhận định:
Anh Đỗ Thế C và chị Ngô Thị Hồng A kết hôn do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện G, thành phố Hải Phòng ngày 19-12-2005 nên anh C và chị A có quan hệ là vợ chồng. Quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn. Cuối năm 2006, anh C đã tự ý bỏ nhà đi mà không thông báo cho chị A biết hiện đang sinh sống tại đâu. Từ khi anh C bỏ nhà đi cho đến nay đã hơn 10 năm nhưng chị A, bố mẹ và những người thân của anh C không nhận được tin tức gì về việc anh C còn sống hay đã chết, không biết hiện anh C đang sinh sống tại địa chỉ nào. Tháng 7 năm 2018, chị A có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố anh C mất tích.
Theo tài liệu Viện kiểm sát nhân dân huyện G cung cấp thì anh Đỗ Thế C trốn truy nã vì ngày 13-12-2006, Công an huyện G thành phố Hải Phòng đã khởi tố vụ án hình sự tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và ngày 16-01-2007 đã ra Quyết định khởi tố bị can Đỗ Thế C. Ngày 02-02-2007, Công an huyện G đã ra Quyết định truy nã và cho đến nay vẫn chưa bắt được bị can Đỗ Thế C. Như vậy, anh Đỗ Thế C đã bỏ nhà đi vì lý do phạm tội, nhưng hơn mười năm nay, chị A và gia đình không có bất cứ tin tức gì của anh C; Cơ quan có thẩm quyền cũng chưa bắt được anh C theo lệnh truy nã và cũng không biết được anh C đang ở đâu, đối chiếu với quy định tại Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự có đủ điều kiện để tuyên bố anh C mất tích. Trong trường hợp nếu cơ quan có thẩm quyền bắt được anh C theo Lệnh truy nã hoặc anh C trở về thì căn cứ Điều 390 của Bộ luật Tố tụng dân sự có thể tuyên bố hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích đói với anh C nên không làm ảnh hưởng đến việc xử lý anh C về hình sự.
Sau khi kết hôn với anh C, chị A chỉ chung sống với anh C được khoảng một năm. Kể từ khi anh C đã bỏ nhà đi cho đến nay đã hơn mười năm. Như vậy, nhiều năm nay, quan hệ vợ chồng giữa chị A và anh C chỉ tồn tại về mặt pháp lý, còn trên thực tế chị A chỉ sống một mình nhưng không thể làm thủ tục ly hôn do anh C không có mặt tại địa phương. Nay chị A có yêu cầu tuyên bố anh C mất tích để làm thủ tục ly hôn. Xét thấy yêu cầu của chị A đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 68 của Bộ luật Dân sự, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của chị A đồng thời vẫn đảm bảo việc xử lý về hình sự đối với anh C trong trường hợp Cơ quan có thẩm quyền bắt được anh C theo Lệnh truy nã hoặc anh C trở về, vì vậy Tòa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của chị A là có căn cứ cần giữ nguyên Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/2018/QĐDS-DS ngày 29-11-2018 của Tòa án nhân dân huyện G; không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện G.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 68 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 374, Điều 375 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 36, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Giữ nguyên quyết định giải quyết việc dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị Hồng A:
Tuyên bố anh Đỗ Thế C mất tích.
2. Về lệ phí: Chị Ngô Thị Hồng A phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ số tiền lệ phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng tại Biên lai thu số 16842 ngày 16 tháng 7 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, thành phố Hải Phòng. Chị Ngô Thị Hồng A đã nộp đủ lệ phí dân sự phúc thẩm.
Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - Các đương sự (để thi hành); - VKSND TP Hải Phòng; - TAND huyện G, TP Hải Phòng; - Chi cục THADS huyện G, TP Hải Phòng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trần Minh Phương |