vanban.org

Quyết định 24/2020/HSST — Hình sự

TAND TX. Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 29/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Bị cáo Mai Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” Xử phạt Mai Văn H: 18 ( Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 ( Ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai VĂn H phạm tội về gia thú - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ Q
TỈNH Q
-:-

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2020/HSST
Ngày : 29/5/2020
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phan H
Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Công Soạn, ông Đoàn Văn Chương.
Q
Nguyễn Thị Mai Hương - Kiểm sát viên.
Q xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2020/HS-ST ngày
03/4/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2020/QĐXXST-HS ngày
07/5/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2020/HSST- QĐ ngày 20/5/2020
đối với bị cáo:
Trong ngày 29 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Q - Tỉnh

MAI VĂN H

Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 06/01/1972, tại thị xã K, tỉnh H. Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Khu H, phường M, thị xã K, tỉnh H. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lái xe. Họ và tên bố: Mai Văn Ch, sinh năm 1932; họ và tên mẹ: Phạm Thị C, sinh năm 1934. Gia đình bị cáo có 09 anh em, bị cáo là con thứ tám. Vợ: Đào Thị H, sinh năm 1975. Bị cáo có hai con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Chưa. Bị cáo đầu thú ngày 04/02/2020, hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1960.

Nơi ở: Khu Đ, phường H, thành phố H, tỉnh Q ( Đã chết)

Đại diện hợp pháp của người bị hại: Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1973; Là vợ của người bị hại.

Nơi ở: Khu Đ, phường H, thành phố H, tỉnh Q, vắng mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH vận tải và thương mại Đ. Địa chỉ: Khu đô thị mới, thị trấn M, huyện, tỉnh Hải Dương. Đại diện ông Trần Tuấn L, sinh năm 1974; Phó Giám đốc Công ty TNHH vận tải và thương mại Đạ, có mặt tại phiên tòa.

Bà Đào Thị H sinh năm 1979.

Nơi ở: Khu H, phường M, thị xã K, tỉnh H, có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Anh Đinh Văn Lợi, sinh năm 1988.

Nơi ở: Khu H, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Q, vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 04/02/2020, Mai Văn H (Có giấy phép lái xe hạng FC, có hợp đồng lái xe cho Công ty TNHH Đ) điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS 34C - 081.56 kéo theo sơ mi rơ móc BKS 34R-008.19, đi hướng phường Quảng Yên đi phường M, thị xã Q. Khi đi đến km 5 + 500, đường tỉnh lộ 331 thuộc khu H, phường C, thị xã Q, là đoạn đường cong, dốc, H điều khiển xe lấn sang phần đường ngược chiều, đâm vào xe mô tô biển kiểm soát 16F2 - 5819 do ông Nguyễn Văn C ( Sinh năm 1960, trú tại khu Đồn Điền, phường H, thành phố H) điều khiển đi hướng từ phường Minh Thành về thị xã Q. Sau đó H điều khiển xe về phía bên phải theo hướng đi của H rồi dừng xe sát mép đường. Hậu quả, ông C bị cuốn vào bánh xe ô tô của H, tử vong tại chỗ, xe mô tô hư hỏng nặng. Sau khi gây tai nạn, H đi bộ khỏi hiện trường, đến 16 giờ cùng ngày ra đầu thú tại Cơ quan điều tra và khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 04/02/2020 thể hiện: Đoạn đường xảy ra tai nạn cong về phía bên trái theo hướng từ phường Minh Thành đi phường Quảng Yên, đường rộng 11 m, chia làm 4 làn đường. Tại đường cong phân cách hai làn đường ngược chiều nhau bằng vạch sơn kẻ màu vàng liền nét. Khám nghiệm phát hiện các dấu vết cơ bản như sau:

- Chùm các vết tì miết màu đen (ký hiệu số 1) trên mặt đường và vết cày đất mép đường kích thước 50 x 3,19 m; chùm các vết này gồm các vết tì miết có độ rộng tương đối bằng nhau (0,2m) song song với nhau từng đôi một. Hướng của vết là phường Quảng Yên đi phường Minh Thành.

- Điểm đầu của vết tại phần đường bên trái hướng Quảng Yên đi Minh Thành, cách mép đường chuẩn 1,9 m, điểm cuối trùng với trục IV hai bên của xe ô tô đầu kéo theo sơ mi rơ móc song song với đoạn đầu của chùm vết trên mặt đường là vết cày đất mép đường; Vết cày xước mặt đường đứt đoạn kích thước 7,72 x 0,5 m hướng Quảng Yên đi Minh Thành, điểm đầu cách điểm đầu vết số (1) là 22,5 m; cách mép đường chuẩn là 1,95m.

- Vết màu nâu nghi máu, tổ chức cơ thể người dạng bán tóe kích thước (12,5x3,2) m theo hướng của chùm vết số (1);

- Xe mô tô BKS 16F2 – 5819 trong trạng thái đổ nghiêng sang phải sát mép đường chuẩn; đầu xe quay đi hướng Minh Thành, đuôi xe đi hướng phường Quảng Yên, trục sau của xe sát mép đường chuẩn, cách mốc 2,3 m, trục trước cách mép đường chuẩn 0,5m.

Tử thi nam giới được xác nhận là ông Nguyễn Văn C nằm ngửa trên mặt đường, khuôn mặt biến dạng, tử thi nằm bên trái chùm vết số (1), đầu tử thi cách mép đường chuẩn là 4,7m; gót chân trái tử thi cách trục trước xe mô tô 4,7m, cách mép đường chuẩn là 3,8m.

Xe ô tô đầu kéo BKS 34 C – 081.56 kéo theo sơ mi rơ móc BKS 34R-008.19 (ký hiệu 6) trong trạng thái đỗ trên mặt đường sát mép đường bên trái hướng phường Minh Thành đi Quảng Yên, đầu xe quay hướng Minh Thành. Tại biên bản khám nghiệm tử thi ông Nguyễn Văn C thể hiện: Đầu, mặt, cổ rách da, cơ, dập vỡ xương toàn bộ, vùng đầu mặt, nhiều mảnh xương hộp sọ văng ra ngoài, đứt rời vùng mặt chắn ngang xương hàm dưới; ngực bụng gẫy sập toàn bộ, xương lồng ngực gẫy hướng từ trước về sau, lồng ngực xẹp; lưng mông bầm tím toàn bộ, các xương cột sống gẫy; tứ chi gẫy kín phức tạp, nhiều vị trí; rách da vùng hố chậu, bờ mép nham nhở; hậu môn, sinh dục ngoài, hai tinh hoàn không tổn thương. Không mổ tử thi.

Kiểm tra phương tiện xe đầu kéo BKS 34C-081.56 kéo theo sơmi rơ móc BKS: 34R – 008.14 phát hiện dấu vết: Rách vỡ nhựa bậc để chân thứ ba bên lái; mặt ngoài bậc để chân thứ nhất bên lái có vết mài miết mất bụi; mặt ngoài bánh lốp trục 1 bên lái có vết mài cao su mất bụi; tính từ mặt trong bánh trục 4 đến thành cuối tH xe, dưới gầm xe, trên trục bánh xe và mặt trong lốp xe có nhiều vết màu nâu nghi là máu dạng bắn và tổ chức cơ thể người bám dính .

Tại kết luận giám định pháp y số 127, ngày 05/02/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Q kết luận: Nguyên nhân chết của nạn nhân Nguyễn Văn C do sốc đa chấn thương .

Tại kết luận định giá tài sản số 19, ngày 30/3/2020 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: Chiếc xe mô tô BKS 16F2 – 5819 bị hư hỏng, thiệt hại 1.180.000 đồng.

Quá trình điều tra, bị can cùng gia đình đã tự nguyện bồi thường số tiền 380 triệu đồng cho gia đình bị hại, gia đình người bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Về vật chứng là xe ô tô đầu kéo BKS 34C-081.56 kéo theo sơ mi rơ móc BKS 34R – 008.14 Cơ quan điều tra trả cho công ty TNHH Đ, còn xe mô tô tô BKS 16F2 – 5819, gia đình bị hại chưa cung cấp được giấy tờ chứng minh nguồn gốc xe nên Cơ quan điều tra tiếp tục giữ lại xác minh làm rõ sau.

Tại bản Cáo trạng số: 23/CT - VKSQY ngày 31/3/2020 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q đã truy tố bị cáo Mai Văn H về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thị xã Q vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo theo nội dung Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử xử áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b,s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt từ: 18 đến 21 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 tháng đến 42 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường Minh Tân, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương giám sát, quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Mai Văn H khai nhận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 04/02/2020, bị cáo Mai Văn H có giấy phép lái xe hạng FC, điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS 34C-08156 đi từ hướng phường Quảng Yên đi phường Minh Thành, thị xã Q, tỉnh Q. Khi đi đến km 5 + 500, tỉnh lộ 331 thuộc khu H, phường C, thị xã Q, H điều khiển xe lấn sang phần đường ngược chiều nên đã đâm vào xe mô tô biển kiểm soát 16-F2 5819 do ông Nguyễn Văn C điều khiển đi hướng ngược chiều, làm ông C tử vong tại chỗ. Bị cáo không tranh luận và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt tù.

Bà Đào Thị H1 khai: Bà Hằng là vợ của bị cáo Mai Văn H. Sau khi chồng bà gây tai nạn ngày 04/02/2020, gia đình bà cùng đại diện Công ty Đ đã bồi thường cho gia đình người bị hại. Gia đình bà bồi thường 190.000.000 đ và Công ty Đ bồi thường 190.000.000 đ cho gia đình người bị hại.

Ông Trần Tuấn L khai: Bị cáo Mai Văn H làm lái xe của Công ty từ năm 2015. Ngày 04/02/2020, Mai Văn H gây tai nạn làm chết ông Nguyễn Văn C. Công ty và phía gia đình bị cáo H đã thỏa thuận cùng bồi thường cho đại diện người bị hại. Gia đình bị cáo H bồi thường 190.000.000 đ và phía Công ty Đ bồi thường 190.000.000 đ cho gia đình người bị hại. Chúng tôi không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

* Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó: Các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội:

Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai nhận hành vi điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS 34C-08156 tham gia giao thông, lấn sang đường bên trái, gây tai nạn làm chết ông Nguyễn Văn C phù hợp với nội dung bản Cáo trạng.

Người làm chứng anh Đinh Văn L khai nhận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 04/02/2020, ông Lợi nghe thấy tiếng động mạnh, thấy một xe ô tô đầu kéo đi từ hướng phường Cộng Hòa về Đông Mai, xe phanh gấp. Ông nhìn thấy một người bị cuốn vào bánh xe ô tô, xe ô tô di chuyển từ làn đường bên trái sang bên phải theo hướng đi Đông Mai. Người lái xe xuống xe đi khỏi hiện trường. Ông L thấy một người nam giới nằm ở giữa đường, đầu bị nát và có một xe loại Dream nằm đổ trên đường.

Như vậy lời khai người làm chứng trong quá trình điều tra phù hợp lời khai bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường; Biên bản khám xe ô tô và xe mô tô; phù hợp với các chứng cứ khác trong vụ án. Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 04/02/2020, bị cáo Mai Văn H có giấy phép lái xe hạng FC, điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS 34C-08156 đi từ hướng phường Quảng Yên đi phường Minh Thành, thị xã Q, tỉnh Q. Khi đi đến km 5 + 500, tỉnh lộ 331 thuộc khu Hưng Hòa, phường Cộng Hòa, thị xã Q, H điều khiển xe lấn sang phần đường ngược chiều nên đã đâm vào xe mô tô biển kiểm soát 16-F2 5819 do ông Nguyễn Văn C điều khiển đi hướng ngược chiều, làm ông C chết.

Hành vi nêu trên của bị cáo Mai Văn H đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ và phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ quy định:

Điều 9. Quy tắc C

1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.

Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”

a) Làm chết người

Hành vi bị cáo gây nên là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ cũng như sự an toàn về tính mạng, sức khỏe và tài sản công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo Mai Văn H có Giấy phép lái xe hạng FC điều khiển xe ô –tô đầu kéo BKS: 34 C- 08156 kéo theo sơ mi rơ-mooc, BKS: 34 R- 00819 đi hướng từ Quảng Yên đi phường Minh Thành, thị xã Q. Khi đến khu Hưng Hòa phường Cộng Hòa, thị xã Q. Bị cáo điều khiển xe lấn sang phần đường phía bên trái đâm vào xe mô tô biển kiểm soát 16 - F2 5819 do ông Nguyễn Văn C điều khiển đi hướng ngược chiều, làm ông C tử vong tại chỗ, thiệt hại tài sản trị giá 1.180.000 đồng. Bị cáo tham gia giao thông không thực hiện đúng Luật giao thông đường bộ; đi không đúng làn đường, phần đường theo quy định; điều khiển xe lấn sang làn đường bên trái tại đoạn đường cong; khuất tầm nhìn. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi vô ý. Hành vi này của bị cáo Mai Văn H đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ và phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Cho nên việc đưa bị cáo ra xử lý trước pháp luật là cần thiết, đáp ứng yêu cầu phòng chống các tội phạm về tham gia giao thông trong tình hình hiện nay. Vì vậy cần có mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi bị cáo gây nên.

Về tình tiết tăng nặng: Không

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi vi phạm. Sau khi thực hiện hành vi bị cáo ra đầu thú. Bị cáo cùng gia đình đã tự nguyện bồi thường cho đại diện hợp pháp của người bị hại, đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin cho bị cáo được hưởng án treo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự để bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật. Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo với xã hội mà cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội để thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Về vật chứng trong vụ án: Chiếc xe ô tô đầu kéo BKS:34C - 08156 kéo theo sơ mi rơ móc BKS: 34R – 00814, Cơ quan điều tra trả cho Công ty TNHH Đ. Đối với chiếc xe mô tô, BKS 16F2 – 5819 do ông Nguyễn Văn C điều khiển, gia đình bị hại chưa cung cấp được giấy tờ chứng minh nguồn gốc xe nên Cơ quan điều tra giữ lại xác minh nên không xét.

Đối với Giấy phép lái xe, hạng FC, mang tên Mai Văn H, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đã trả lại cho Mai Văn H.

Vấn đề bồi thường: Bị cáo và đại diện hợp pháp của người bị hại đã giải quyết phần bồi thường xong nên không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh và hình phạt:

Bị cáo Mai Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1,2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Mai Văn H: 18 ( Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 ( Ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho UBND phường Minh Tân, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự: Hủy Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thị xã Q: Số 06/2020/LCCT-TA- HS. ngày 08/5/2020 đối với Mai Văn H.

Trong trường hợp bị cáo hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thay đối nơi làm việc thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2.Về án phí hình sự sơ thẩm, quyền kháng cáo:

Căn cứ khoản 1-2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Bị cáo Mai Văn H phải nộp 200.000 đ ( Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đại diện hợp pháp của người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. NƠI NHẬN

T.M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -TAND tỉnh Q;

Cỡ chữ