vanban.org

Quyết định 238/2023/QĐ-PT — Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 26/04/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/04/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn kháng cáo của Ông Lê Văn X.

Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 33/2022/QĐST-ST ngày 22 tháng 11 năm 2022 của Toà án nhân dân tỉnh An Giang. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất — án dân sự — "Bà Lê Thị U kiện ông Vương Tấn D"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn kháng cáo của Ông Lê Văn X.
  • Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 238/2023/QĐ-PTThành phố Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 4 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Khương

Bà Nguyễn Thị Thụy Vũ.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Ông Nguyễn Văn Cường - Thư ký

Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham

gia phiên họp: Ông Đoàn Văn Vâng - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 33/2022/QĐST-

ST ngày 22 tháng 11 năm 2022, Toà án nhân dân tỉnh An Giang đã căn cứ vào Điều 48, điểm a khoản 1 Điều 217, khoản 2 Điều 218, khoản 1 Điều 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tranh chấp “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị U (đã chết ngày 15/01/2022),

Địa chỉ khi còn sống: Số 310/5 A, phường B, thành phố C, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn:

2.1. Ông Vương Tấn D, sinh năm 1965;

2.2. Bà Phan Thị N, sinh năm 1966;

Cùng địa chỉ: Số 310/5 A, phường B, thành phố C, tỉnh An Giang.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Nguyễn Tấn H, sinh năm 1957;

Địa chỉ 1: Ost Strasse 7, 99086 Erfnrt - Germany (CHLB Đức);

Địa chỉ 2: Số 310 A, phường B, thành phố C, tỉnh An Giang.

3.2. Ông Lê Văn X, sinh năm 1961;

Địa chỉ: số 310/5 A, phường B, thành phố C, tỉnh An Giang.

3.3. Bà Lạc Thị S, sinh năm 1936;

Địa chỉ: Số 30 A, phường D, thành phố C, tỉnh An Giang.

3.4.

Ông

Trần

Thanh

P,

sinh

năm

1972;

Địa chỉ: Số 110 Bis E, khóm F, phường G, thành phố C, tỉnh An Giang.

3.5. Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1981;

Địa chỉ: Số 355/18 H, phường I, thành phố C, tỉnh An Giang.

3.6. Bà Khương Kim H, sinh năm 1979;

Địa chỉ: Số 127/7F K, phường L, thành phố C, tỉnh An Giang.

3.7. Ông Phạm Lục H;

3.8. Bà Nguyễn Thị Bé H;

Địa chỉ: Số 29/4 đường A, phường G, thành phố C, tỉnh An Giang.

3.9. Văn phòng công chứng C.

3.10. Văn phòng công chứng M.

3.11. Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh An Giang.

Tại Đơn kháng cáo ngày 02/12/2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Ông Lê Văn X đề nghị xem xét lại toàn bộ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 33/2022/QĐST-ST ngày 22 tháng 11 năm 2022 của Toà án nhân dân tỉnh An Giang, vì Ông X cho rằng, ông là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị U, do ông là cháu gọi bà U bằng cô.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham

gia phiên họp phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm mở phiên họp trong thời hạn quy định tại

Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Mặc dù bà Lê Thị U khi còn sống không có chồng con, cha mẹ

đã chết, nhưng theo hồ sơ vụ án thể hiện thì bà U có các anh chị em ruột, các cháu. Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để xác định người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị U, theo quy định tại Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về xác minh, thu thập chứng cứ, mà đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, vì lý do nguyên đơn bà Lê Thị U chết, nhưng “chưa” có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng để tham gia tố tụng, là không có căn cứ pháp luật cả về trình tự thu thập chứng cứ, đồng thời áp dụng sai pháp luật, vi phạm điểm a khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Do đó, đề nghị hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số

33/2022/QĐST-ST ngày 22 tháng 11 năm 2022 của Toà án nhân dân tỉnh An Giang để tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

XÉT THẤY:

. Tòa án nhân dân tỉnh An Giang thụ lý vụ án số 98/2017/TLST-DS ngày

08 tháng 02 năm 2017 về tranh chấp “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giữa nguyên đơn bà Lê Thị U với bị đơn là ông Vương Tấn D và Bà Phan Thị N, và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ông Nguyễn Tấn H, Ông Lê Văn X, cùng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác.

Trong quá trình tham gia tố tụng, ngày 15/01/2022, bà Lê Thị U chết. Ông

Lê Văn X trình bày, bà Lê Thị U không có chồng, con, nhưng có nhiều cháu gọi bà U bằng cô, bằng dì, chính Ông X là người nộp giấy chứng tử của bà U cho Tòa án nhân dân tỉnh An Giang (BL số 1199; 1260)

Tại Đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện (BL số 01-03), bà Lê Thị U trình

bày, Ông Nguyễn Tấn H là em của bà; Ông X là cháu, là người thân, sống chung hộ khẩu với bà U. Tại Sổ hộ khẩu số 4460ADD ngày 02/10/2008 thể hiện tại nơi thường trú số 310/5 A, Khóm 7, B, C, bà Lê Thị U là chủ hộ, các thành viên kèm theo là Ông Lê Văn X, Bà Phan Thị N, ông Vương Tấn D, anh Vương Phước T, và anh Vương Tài N (BL 43-45); Tại Bản khai nhân khẩu (không ghi ngày) thể hiện bà Lê Thị U khai về quan hệ gia đình như sau: Cha là ông Lê Văn Giai (sinh năm 1899; chết), mẹ là bà Nguyễn Thị T (sinh năm 1900), chị là bà Lê Thị Đ (sinh năm 1926), anh là ông Lê Văn H (sinh năm 1929), chị là bà Lê Thị N (sinh năm 1933) và anh là ông Lê Văn T (sinh năm 1943) (BL số 87). Tại Biên bản đối chất ngày 17/4/2012, Ông Lê Văn X trình bày, ông là cháu ruột, sống chung nhà với bà U. Bà Lê Thị M trình bày, bà là cháu ruột của bà U (BL số 185 - 188). Tại Giấy ủy quyền lập ngày 30/3/2012, bà U ủy quyền cho Bà M tham gia tố tụng, ghi quan hệ giữa người ủy quyền và người được ủy quyền là “cô-cháu” (BL 197). Tại Lý lịch của Bà M khai ngày 23/8/2000 (trước ngày bà U chết), Bà M khai có cha là ông Lê Văn H (trong lý lịch của bà U khai có anh là ông Lê Văn H), có cô là bà Lê Thị U (sinh năm 1946, tham gia cách mạng) (BL 1250 - 1252).

Ngày 12/10/2022, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang ban hành Quyết định yêu

cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 129/2022/QĐ.CCTLCC, yêu cầu Ông Lê Văn X cung cấp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ chứng minh những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị U, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định này. Tại Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ có ghi: “Trong trường hợp không cung cấp được tài liệu, chứng cứ thì phải thông báo bằng văn bản cho Tòa án biết, trong đó ghi rõ lý do của việc không cung cấp được tài liệu, chứng cứ”. Hồ sơ vụ án không thể hiện, hết 15 ngày theo quy định, Ông X có thông báo bằng văn bản cho Tòa án nhân dân tỉnh An Giang biết, ông có cung cấp được tài liệu, chứng cứ theo quy định tại Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ nêu trên hay không. Tuy nhiên, trong Đơn kháng cáo, Ông X trình bày, ông đang tập hợp danh sách những người thuộc diện thừa kế của bà U, chờ Ủy ban nhân dân địa phương xác nhận, thì Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án.

Từ những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho thấy, bà Lê Thị U

chết, không có chồng con, nhưng quan hệ nhân thân thể hiện bà U có các nhân thân khác.

Tòa án nhân dân tỉnh An Giang không tiến hành xác minh, thu thập chứng

cứ để xác định người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị U, theo quy định tại Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về xác minh, thu thập chứng cứ, mà đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, vì lý do nguyên đơn bà Lê Thị U chết, nhưng “chưa” có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng để tham gia tố tụng theo quy định, là không có căn cứ pháp luật, cả về trình tự thu thập chứng cứ như đã phân tích, đồng thời áp dụng sai pháp luật, bởi lẽ, điểm a khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, quy định về căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án như sau: “Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ “không” được thừa kế”, chứ không phải là “chưa” có người thừa kế như Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã nhận định. Việc Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đình chỉ giải quyết vụ án ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của những người thừa kế của bà Lê Thị U, bởi lẽ, theo quy định của pháp luật, trong trường hợp này, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị U (nếu có) không có quyền khởi kiện lại vụ án.

. Do đó, kháng cáo của Ông Lê Văn X yêu cầu hủy Quyết định đình chỉ

giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 33/2022/QĐST-ST ngày 22 tháng 11 năm 2022 của Toà án nhân dân tỉnh An Giang là có căn cứ chấp nhận.

. Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên họp là phù hợp.

. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Văn X không phải nộp tiền án phí

phúc thẩm.

Căn cứ vào Điều 148, Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận đơn kháng cáo của Ông Lê Văn X.

2. Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số

33/2022/QĐST-ST ngày 22 tháng 11 năm 2022 của Toà án nhân dân tỉnh An Giang.

Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh An Giang để tiếp tục giải

quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

3. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Văn X không phải nộp.

4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ