vanban.org

Quyết định 237/2025/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Nguyễn Đức H:

Tuyên bố bà Lê Thị L, sinh ngày 08/8/1980; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx; nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Số F kiệt E đường H, phường A, thành phố H mất tích. Về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của người bị tuyên bố mất tích được thực hiện theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "H - L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Nguyễn Đức H:
  • Căn cứ chính? Bộ luật tố dụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; luật phá sản và luật hòa giải
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - HUẾ
________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 237/2025/QĐST-VDSThành phố Huế, ngày 15 tháng 12 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Hoàng Quang Bình;

Thư ký phiên họp: Ông Lê Trương Bảo Long - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Huế

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Huế tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Phương Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Huế mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 06/2025/TLST-VDS ngày 09 tháng 7 năm 2025, về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số /2025/QĐST-VDS ngày 03 tháng 12 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

* Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1973; địa chỉ: Số F kiệt E đường H, phường A, thành phố H, có mặt;

* Người làm chứng:

- Chị Nguyễn Lê Phương N, sinh năm 2006; địa chỉ: Số F kiệt E đường H, phường A, thành phố H, có mặt;

- Ông Lê Gia T, sinh năm 1929; địa chỉ: Thôn D, xã P, thành phố H, vắng mặt;

- Ông Lê Gia M, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn D, xã P, thành phố H, có mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 13 tháng 6 năm 2025; quá trình giải quyết việc dân sự và tại phiên họp ông Nguyễn Đức H là người yêu cầu trình bày:

Ông và bà Lê Thị L, sinh ngày 08/8/1980; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx là vợ chồng và có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 17/2012, ngày 06 tháng 02 năm 2012 của Ủy ban nhân dân phường A, thành phố H.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại địa chỉ số F kiệt E đường H, phường A, thành phố H. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn mà không thể hàn gắn được nên từ tháng 4 năm 2022 cho đến nay bà L đã bỏ nhà đi biệt tích mà không liên lạc được. Ông đã đi tìm nhiều nơi, nhiều năm liên tục hỏi thăm người thân, bạn bè của bà L nhưng không ai biết bà ở đâu, không có tin tức gì. Ông đã tìm mọi cách liên lạc với bà L nhưng không có kết quả. Nay, thời gian bà L bỏ đi đã lâu nên ông yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với bà Lê Thị L để ông làm thủ tục ly hôn.

Tại phiên họp: Ông Nguyễn Đức H vẫn giữ nguyên yêu cầu.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 18/7/2025 của ông Lê Gia T (là cha của bà L); bản tự khai ngày 18/7/2025 của ông Lê Gia M (là anh trai của bà L) và đơn trình bày ý kiến ngày 28/7/2025 của chị Nguyễn Lê Phương N (là con gái của bà L) trình bày: Bà L và ông H là vợ chồng. Sau khi kết hôn ông H, bà L chung sống với nhau tại địa chỉ số F kiệt E đường H, phường A, thành phố H. Quá trình chung sống giữa ông H, bà L xảy ra nhiều mâu thuẩn nên vào tháng 4 năm 2022 bà L đã bỏ nhà đi biệt tích cho đến nay mà không liên lạc được. Ông H đã tìm nhiều cách để liên lạc với bà L nhưng không có kết quả. Ông T, ông M và chị N không biết địa chỉ bà L hiện nay ở đâu. Nay ông H yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Lê Thị L mất tích thì đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định pháp luật để giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Huế tham gia phiên họp phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Đây là việc dân sự yêu cầu tuyên bố một người mất tích, do bà Lê Thị L có đăng ký thường trú tại số F kiệt E đường H, phường A, thành phố H nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 35, Điểm b Khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật tố dụng dân sự, luật tố tụng hành chính, luật tư pháp người chưa thành niên, luật phá sản và luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Tòa án nhân dân khu vực 1 -Huế thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ việc từ khi thụ lý đến thời điểm mở phiên họp, Thẩm phán thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đã hết thời hạn 04 (bốn) tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc bà Lê Thị L còn sống hay đã chết. Do đó, theo đơn yêu cầu của ông Nguyễn Đức H yêu cầu tuyên bố bà Lê Thị L mất tích là có cơ sở nên đề nghị Tòa án chấp nhận.

- Về lệ phí việc dân sự sơ thẩm, ông Nguyễn Đức H phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự đã được thẩm tra tại phiên họp; lời khai của đương sự và ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Huế nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ hồ sơ việc dân sự thể hiện ông Nguyễn Đức H yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với bà Lê Thị L, sinh ngày 08/8/1980, căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx. Theo xác nhận của Công an phường A, bà L có đăng ký thường trú tại nhà số F kiệt E đường H, phường A, thành phố H. Tuy nhiên, bà L hiện nay không sinh sống thực tế tại địa phương. Theo kết quả xác minh của Ủy ban nhân dân phường A, kể từ ngày đăng, phát thông báo tìm kiếm lần đầu tiên là ngày 01/8/2025 cho đến nay bà Lê Thị L không đến trình diện tại Ủy ban nhân dân phường A. Như vậy, có cơ sở xác định địa chỉ số F kiệt E đường H, phường A, thành phố H là nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích của bà Lê Thị L. Căn cứ khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật tố dụng dân sự, luật tố tụng hành chính, luật tư pháp người chưa thành niên, luật phá sản và luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án xác định đây là việc dân sự về yêu cầu tuyên bố một người mất tích, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 1 - Huế.

Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Đức H có mặt tại phiên họp là đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự nên Tòa án tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự theo quy định tại khoản 2 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của đương sự: Ông Nguyễn Đức H yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với bà Lê Thị L.

Xét thấy, theo lời khai của những người làm chứng đều xác nhận bà Lê Thị L đã bỏ đi khỏi địa phương từ tháng 4 năm 2020 cho đến nay, đi đâu không rõ.

Ngày 30/7/2025, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Huế ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 22/2025/QĐ-TA; thông báo tìm kiếm thông tin bà Lê Thị L đã được đăng trên báo T1, Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân và phát sóng trên Đ (VTV8) theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đến nay, đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên vẫn không có tin tức của bà Lê Thị L. Như vậy, bà Lê Thị L đã biệt tích hai năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực là còn sống hoặc đã chết và người yêu cầu đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm theo quy định của pháp luật nên có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Đức H.

Về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của người bị tuyên bố mất tích được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Huế về việc giải quyết việc dân sự là có cơ sở nên chấp nhận.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Người yêu cầu phải chịu theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 2 Điều 367, Điều 371, Điều 372, Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật tố dụng dân sự, luật tố tụng hành chính, luật tư pháp người chưa thành niên, luật phá sản và luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Căn cứ Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Nguyễn Đức H:

Tuyên bố bà Lê Thị L, sinh ngày 08/8/1980; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx; nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Số F kiệt E đường H, phường A, thành phố H mất tích.

2. Về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của người bị tuyên bố mất tích được thực hiện theo quy định của pháp luật.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do ông Nguyễn Đức H chịu, được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000168 ngày 09 tháng 7 năm 2025 của Thi hành án Dân sự thành phố H. Ông Nguyễn Đức H đã nộp đủ lệ phí.

4. Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Trường hợp đương sự không có mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ