vanban.org

Quyết định 237/2022/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Kim Ng và anh Dương Đình H.

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim Ng và anh Dương Đình H đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên nhất trí thuận tình ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kim Ng - Dương Đình Hiệu ly hôn, tranh chấp nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Kim Ng và anh Dương Đình H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỔ YÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 237/2022/QĐST-HNGĐPhổ Yên, ngày 27 tháng 12 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ vào hồ sơ vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 255/2022/TLST-HN&GĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim Ng, sinh năm: 1988;

Địa chỉ: Tổ 2B, phường Phố Cò, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên

- Bị đơn: Anh Dương Đình H, sinh năm: 1984;

Địa chỉ: Tổ dân phố Đại Tân, phường Tiên Phong, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

Căn cứ các Điều 147, 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 55, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 19 tháng 12 năm 2022.

XÉT THẤY

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 19/12/2022 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Kim Ng và anh Dương Đình H.

2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim Ng và anh Dương Đình H đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên nhất trí thuận tình ly hôn.

2.2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim Ng và anh Dương Đình H thỏa thuận: Giao cho chị Nguyễn Thị Kim Ng trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Dương Bảo H, sinh năm 2011 đến khi cháu H đủ 18 tuổi, giao cho anh Dương Đình H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Dương Gia L, sinh năm 2013; cháu Dương Mạnh Q, sinh năm 2015; cháu Dương Quang M, sinh năm 2021 cho đến khi các cháu L, Q, M đủ 18 tuổi.

Chị Nguyễn Thị Kim Ng và anh Dương Đình H được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Kim Ng và anh Dương Đình H đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với các bên cho đến khi có yêu cầu.

2.3. Về tài sản chung, nợ chung, khoản cho vay chung: Các đương sự không yêu cầu, Tòa án không xem xét giải quyết.

2.4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim Ng và anh Dương Đình H thỏa thuận: chị Ng chịu 150.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nộp vào Ngân sách Nhà nước, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí Tòa án số 0002417 ngày 18 tháng 10 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Hoàn trả chị Nguyễn Thị Kim Ng 150.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp.

3. Quyết định này có H lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Cỡ chữ