vanban.org

Quyết định 237/2020/QĐ-PT

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 24/09/2020 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/09/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hình sự đã được Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội thụ lý số 608/2020/HSPT ngày 10/8/2020 đối với bị cáo Tòng Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2020/HSST ngày 29/6/2020 của Tòa án nhân tỉnh L có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm. Bị cáo Tòng Văn Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Tòng Văn Q - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hình sự đã được Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội thụ lý số 608/2020/HSPT ngày 10/8/2020 đối với bị cáo Tòng Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI
***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 237/2020/QĐ-PTL, ngày 24 tháng 9 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ XÉT XỬ PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hồng Phúc;

- Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Hà và ông Nguyễn Tất Nam.

NHẬN THẤY:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2020/HSST ngày 29/6/2020, Tòa án nhân tỉnh L đã quyết định như sau:

Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 40 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Tòng Văn Q;

Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s, r, t, u khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Đỗ Văn T;

Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Văn N;

Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Hữu D;

Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 2 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Đoàn Thị Hồng T;

Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, khoản 2 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Văn Q;

Căn cứ khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 291, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh:

Tuyên bố các bị cáo Tòng Văn Q, Đỗ Văn T, Nguyễn Văn N, Nguyễn Hữu D, Đoàn Thị Hồng T, Nguyễn Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

2.1. Xử phạt bị cáo Tòng Văn Q hình phạt Tử hình.

Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

2.2. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 21/7/2019.

2.3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 21/7/2019.

2.4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu D 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 21/7/2019.

2.5. Xử phạt bị cáo Đoàn Thị Hồng T 17 (mười bẩy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 21/7/2019.

2.6. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 17 (mười bẩy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 21/7/2019.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về việc không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; quyết định về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm, các nội dung khác và thông báo quyền các bị cáo được kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, vào ngày 06 tháng 7 năm 2020, bị cáo Tòng Văn Q có đơn kháng cáo lên Tòa án cấp phúc thẩm để xin được giảm hình phạt.

XÉT THẤY:

Tại phiên tòa hình sự phúc thẩm xét xử công khai ngày 24 tháng 9 năm 2020, bị cáo Tòng Văn Q cho rằng, đến nay bị cáo đã nhận thức được việc Tòa án cấp sơ thẩm quyết định mức hình phạt Tử hình đối với bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đã là phù hợp, đúng quy định của pháp luật, cho nên bị cáo xin được tự nguyện rút toàn bộ nội dung kháng cáo để về trại tạm giam làm đơn gửi lên Chủ tịch Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để xin ân giảm án tử hình.

Tại phiên tòa phúc thẩm, cả Luật sư Lương Thị Hương L là Trợ giúp viên pháp lý của tỉnh L, bào chữa để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị cáo Tòng Văn Q và đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa cũng đều đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo Tòng Văn Q với lý do bị cáo đã tự nguyện rút toàn bộ nội dung đơn kháng cáo;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 342 và Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hình sự đã được Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội thụ lý số 608/2020/HSPT ngày 10/8/2020 đối với bị cáo Tòng Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2020/HSST ngày 29/6/2020 của Tòa án nhân tỉnh L có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.

3. Bị cáo Tòng Văn Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Cỡ chữ