- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Phan Thị Minh Vinh: Tuyên bố bà Phan Thị Ngọc B, sinh năm 1949; bà Phan Thị Hàn V, sinh năm 1955; bà Phan Thị Ngọc H, sinh năm 1963; ông Phan Chánh M, sinh năm 1964 và Bà Phan Thạnh A, sinh năm 1967 là mất tích, ngày mất tích tín…
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 236/2020/QĐST-DS | Quận 10, ngày 19 tháng 8 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu tuyên bố một người là mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trịnh Xuân Hương.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Hoàng Trúc Ly – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên họp: Bà Đặng Tuấn Thảo Uyên - Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 452/2019/TLST-DS ngày 02 tháng 12 năm 2019 về việc “Yêu cầu tuyên bố mất tích”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 18/2020/QĐST- DS ngày 05 tháng 8 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây.
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Bà Phan Thị Minh V, sinh năm 1959 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: 245 đường Bà H, Phường 4, Quận 10, Tp.Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Trong đơn yêu cầu ngày 24 tháng 9 năm 2019 và trong các bản khai, người yêu cầu giải quyết việc dân sự bà Phan Thị Minh V trình bày:
Cha của bà tên là Phan Tiên T (đã chết năm 1983 có giấy chứng tử kèm theo) và mẹ của bà là Trần Thị Q (đã chết năm 2018 có giấy chứng tử kèm theo), sinh được 06 người con gồm: Phan Thị Ngọc B, Phan Thị Hàn V, Phan Thị Ngọc H, Phan Chánh M, Phan Thạnh A và Phan Thị Minh V. Năm 1979 các chị em của bà là Phan Thị Ngọc B, Phan Thị Hàn V, Phan Thị Ngọc H, Phan Chánh M và Phan Thạnh A đã đi khỏi nơi cư trú (số nhà 245 đường Bà H, Phường 4, Quận 10) và biệt tích. Trước khi biệt tích, những người này chưa kết hôn (chưa có vợ, chồng, con) và cũng không để lại tài sản hay giấy tờ gì. Gia đình bà V đã tích cực tìm kiếm khắp nơi nhưng đến nay vẫn không có tin tức xác thực về những người này là còn sống hay đã chết. Do đó, bà V có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Phan Thị Ngọc B, sinh năm 1949; bà Phan Thị Hàn V, sinh năm 1955; bà Phan Thị Ngọc H, sinh năm 1963; ông Phan Chánh M, sinh năm 1964 và Bà Phan Thạnh A, sinh năm 1967 là mất tích. Ngoài ra bà V không còn yêu cầu nào khác.
Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký phiên họp kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự: Tòa án thụ lý giải quyết việc dân sự là đúng thẩm quyền. Tòa án xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của đương sự. Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho đương sự. Tuy nhiên, Tòa án chậm ra thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố mất tích và chậm ra quyết định mở phiên họp xét đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự là vi phạm Điều 388 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký phiên họp đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự bà Phan Thị Minh V đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung việc dân sự: Xét thấy yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Phan Thị Minh V là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận, đề nghị Tòa án tuyên bố bà Phan Thị Ngọc B, bà Phan Thị Hàn V, bà Phan Thị Ngọc H, ông Phan Chánh M và Bà Phan Thạnh A là mất, ngày mất tích tính từ ngày 02/01/1982.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân dân Quận 10 nhận định:
Về tố tụng: Bà Phan Thị Minh V có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Phan Thị Ngọc B, bà Phan Thị Hàn V, bà Phan Thị Ngọc H, ông Phan Chánh M và Bà Phan Thạnh A mất tích, những người này có nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ số 245 đường Bà H, Phường 4, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Xét thấy, đây là yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10 được quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự cho bà Phan Thị Minh V. Tuy nhiên trước ngày mở phiên họp, bà V có đơn xin vắng mặt tại phiên họp. Xét đơn xin vắng mặt của bà V là hợp lệ được Tòa án chấp nhận.
Về yêu cầu của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ việc, bà Phan Thị Minh V xác nhận: Bà Phan Thị Ngọc B, bà Phan Thị Hàn V, bà Phan Thị Ngọc H, ông Phan Chánh M và Bà Phan Thạnh A đã biệt tích khỏi địa chỉ nơi cư trú số 245 đường Bà H, Phường 4, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1979 đến nay. Gia đình bà đã tìm kiếm khắp nơi nhưng vẫn không có tin tức gì của những người này.
Căn cứ vào “Giấy chứng nhận đăng ký nhân khẩu thường trú trong hộ” số 0417/G-9 ngày 01/10/1976 của Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh thì: Bà Phan Thị Ngọc B, bà Phan Thị Hàn V, bà Phan Thị Ngọc H, ông Phan Chánh M và Bà Phan Thạnh A có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số nhà 245 đường Bà H, Phường 4, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo kết quả xác minh ngày 24/02/2020 của Công an Phường 4, Quận 10 thì: Các nhân khẩu gồm bà Phan Thị Ngọc B, bà Phan Thị Hàn V, bà Phan Thị Ngọc H, ông Phan Chánh M và Bà Phan Thạnh A không thực tế cư ngụ tại địa chỉ số 245 đường Bà H, Phường 4, Quận 10, bỏ đi khỏi địa phương từ năm 1979, không rõ địa chỉ nơi đến.
Trong quá trình giải quyết việc dân sự, theo yêu cầu của bà Phan Thị Minh V, Tòa án đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm bà Phan Thị Ngọc B, bà Phan Thị Hàn V, bà Phan Thị Ngọc H, ông Phan Chánh M và Bà Phan Thạnh A theo quy định tại Điều 384, Điều 385 và khoản 2 Điều 388 của Bộ luật Tố tụng dân sự như: Thông báo tìm kiếm được đăng trên báo Sài Gòn giải phóng trong 03 số liên tiếp 15370, 15371, 15372 vào các ngày 13, 14, 15/3/2020; Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân và Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam trong ba ngày liên tiếp 14, 15, 16/3/2020 đến nay đã quá 4 tháng mà vẫn không có tin tức gì của những người nêu trên. Do đó, yêu cầu tuyên bố mất tích của bà Phan Thị Minh V là có căn cứ theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Dân sự nên Tòa án chấp nhận.
Xét thấy, bà Phan Thị Ngọc B, bà Phan Thị Hàn V, bà Phan Thị Ngọc H, ông Phan Chánh M và Bà Phan Thạnh A biệt tích từ năm 1979, căn cứ vào Điều 68 của Bộ luật dân sự, Tòa án xác định ngày mất tích của những người nêu trên được tính từ ngày 02/01/1982.
Căn cứ vào lời khai của bà Phan Thị Minh V cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì những người nêu trên trước khi biệt tích không để lại tài sản gì. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự bà Phan Thị Minh V không có yêu cầu gì về tài sản của người bị tuyên bố mất tích. Do đó, Tòa án không cần áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích.
Từ những căn cứ trên, Tòa án có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị Minh V về việc tuyên bố bà Phan Thị Ngọc B, bà Phan Thị Hàn V, bà Phan Thị Ngọc H, ông Phan Chánh M và Bà Phan Thạnh A là mất tích, ngày mất tích tính từ ngày 02/01/1982.
Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do bà Phan Thị Minh V chịu. Tuy nhiên, do bà Phan Thị Minh V là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự. Do đó căn cứ vào Điều 12, Điều 14 và Điều 36 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên bà Phan Thị Minh V được Tòa án miễn tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 68; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 371; Điều 372; Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 68 của Bộ luật Dân sự;
Áp dụng Luật Phí và Lệ phí;
Áp dụng Điều 12, Điều 14 và Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1/ Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Phan Thị Minh Vinh: Tuyên bố bà Phan Thị Ngọc B, sinh năm 1949; bà Phan Thị Hàn V, sinh năm 1955; bà Phan Thị Ngọc H, sinh năm 1963; ông Phan Chánh M, sinh năm 1964 và Bà Phan Thạnh A, sinh năm 1967 là mất tích, ngày mất tích tính từ ngày 02/01/1982.
2/ Về Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Phan Thị Minh V được miễn tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
3/ Về quyền kháng cáo:
Người yêu cầu bà Phan Thị Minh V có quyền kháng cáo quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ quyết định.
Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Quận 10; - UBND Phường 4, Quận 10; - Chi cục THADS Quận 10; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trịnh Xuân Hương |