vanban.org

Quyết định 23/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Công T1.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 02 (hai) năm kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Lê Công T1 có quyền khiếu nại trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hộ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "QUYẾT ĐỊNH Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Công T1.
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 19 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 23/QĐ-TAT, ngày 09 tháng 11 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH YÊN BÁI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Phương.

2. Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thu Quỳnh.

Ngày 09 tháng 11 năm 2018, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Yên Bái tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo quyết định mở phiên họp số 22/2018/QĐ-TA ngày 05/11/2018, đối với:

Họ và tên: Lê Công T1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 10/5/1980; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Tự do; Số CMND: 060596xxx, cấp ngày 16/4/2018, nơi cấp: Công an tỉnh Yên Bái; Nguyên quán: Xã N, huyện T, tỉnh Yên Bái; ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Yên Bái; Con ông Lê Công T2, con bà Trần Thị T; Tiền án có 04: Ngày 20/8/1999 bị Tòa án nhân dân thị xã Yên Bái xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; Ngày 31/12/2001 bị Tòa án nhân dân huyện T xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 30/3/2004 bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Yên Bái xử phạt 42 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 06/11/2008 bị Tòa án nhân dân huyện T tỉnh Yên Bái xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Tiền sự: 01: Quyết định số 39/QĐ-UBND ngày 13/6/2018 của Chủ tịch UBND xã N, huyện T về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Lê Công T1, thời hạn 03 tháng do nghiện chất ma túy.

Lê Công T1 vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Hoàng Viết Hải – Chuyên viên Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh Yên Bái.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Yên Bái: Ông Nguyễn Mạnh Toàn – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ thể hiện: Lê Công T1 là người sử dụng chất ma túy từ năm 2008 (Dưới hình thức chích). Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Yên Bái đã ra quyết định số 39/QĐ-UBND ngày 13/6/2018 áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời hạn 03 tháng đối với Lê Công T1. Ngày 14/9/2018, Chủ tịch UBND xã N, huyện T, tỉnh Yên Bái cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Đến ngày 25/10/2018 Công an xã N, huyện T, tỉnh Yên Bái lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và phối hợp với Trạm y tế xã N xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Lê Công T1 đã cho kết quả dương tính. T1 cũng thừa nhận vẫn sử dụng chất ma túy sau khi bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, lần gần nhất là vào ngày 22/10/2018. Vì vậy UBND xã N đã lập hồ sơ chuyển cơ quan có thẩm quyền đề nghị đưa Lê Công T1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 01/11/2018 Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện T, tỉnh Yên Bái có văn bản số 387/CV-LĐTBXH đề nghị Tòa án nhân dân huyện T xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Công T1.

Tại phiên họp:

- Đại diện Phòng Lao động – thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh Yên Bái đề nghị Tòa án nhân dân huyện T áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Công T1 với thời gian là 02 (hai) năm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Yên Bái phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Tòa án nhân dân huyện T là đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật; đủ cơ sở chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh Yên Bái.

Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ do Công an xã N, huyện T, tỉnh Yên Bái lập, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện hồ sơ, ý kiến của cơ quan đề nghị, ý kiến của Kiểm sát viên và của người bị đề nghị.

XÉT THẤY:

Lê Công T1 là đối tượng nghiện ma túy đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã nhưng T1 không chịu tu dưỡng, cải tạo cho bản thân mà vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và nghiện chất ma túy của Lê Công T1 gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Ngoài ra, Lê Công T1 còn có nhân thân xấu bản thân đã có nhiều tiền án về tội trộm cắp tài sản và mua bán trái phép chất ma túy. Vì vậy, việc đưa Lê Công T1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết. Xét đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện T đối với Lê Công T1 với thời gian 02 (hai) năm là có căn cứ và đủ thời gian để giáo dục và cai nghiện cho T1 thành công dân có ích cho xã hội.

Vì các lẽ trên:

- Căn cứ Điều 95, 96, 105, 110 Luật xử lý vi phạm hành chính.

- Căn cứ Điều 3, khoản 2 Điều 19, Điều 22, Điều 23 và Điều 31 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Công T1.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 02 (hai) năm kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Lê Công T1 có quyền khiếu nại trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện T có quyền kiến nghị trong thời hạn 03 ngày làm việc, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh Yên Bái phối hợp với Công an huyện T có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ