vanban.org

Quyết định 23/2025/QĐ-TA

TAND TP. Lai Châu, tỉnh Lai Châu Tuyên án 22/05/2025 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vàng Văn T tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lai Châu.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày 06/5/2025 tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lai Châu. Vàng Văn T có quyền khiếu nại, Công an phường Đ, tỉnh Lai Châu có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu có quyền kháng nghị trong thời hạn 05… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Vàng Văn T bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vàng Văn T tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lai Châu.
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 107 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 11 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC Quy đị…
TAND THÀNH PHỐ LAI CHÂU
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 23/2025/QĐ - TAThành phố Lai Châu, ngày 22 tháng 5 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU, TỈNH LAI CHÂU

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Vân Anh

Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Lệ Quyên

Ngày 22 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 23/2025/QĐ - TA ngày 14 tháng 5 năm 2025 đối với:

Họ và tên: Vàng Văn T (tên gọi khác: Không có); Giới Tính: Nam; Sinh ngày 06/10/2002; Số căn cước công dân: 012202000717; Dân tộc: Giáy; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nơi đăng ký hộ khẩu trường trú: Bản P, xã G, huyện Đ, tỉnh Lai Châu; Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tiền án, tiền sự: không; Con ông: Vàng Văn V (sinh năm 1982) và con bà Vàng Thị T1 (sinh năm 1982)

Vàng Văn T được đưa vào quản lý tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lai Châu từ ngày 06/5/2025, T có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Phan Quang Vinh - Trưởng Công an phường Đ, tỉnh Lai Châu.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu: Ông Tăng Bá Vương - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu.

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại tòa án và diễn biến phiên họp thì nội dung sự việc được tóm tắt như sau:

Về hành vi vi phạm của người bị đề nghị:

Người bị đề nghị Vàng Văn T sử dụng ma túy vào khoảng tháng 10 năm 2022. Khoảng hơn 15 giờ, ngày 22/4/2025 T sử dụng ma túy loại Heroine bằng hình thức chích ở bụi cây trên đồi chè thuộc tổ 28, phường Đ, thành phố C. Ngày 22/4/2025 Vàng Văn T bị Công an phường Đ, tỉnh Lai Châu yêu cầu test ma túy, cho kết quả dương tính. Công an phường Đ yêu cầu xác minh thông tin nơi cư trú và đề nghị Trung tâm y tế thành phố C xác định T trạng nghiện đối với Vàng Văn T. Cùng ngày Công an xã G, tỉnh Lai Châu trả lời xác minh thông tin nơi cư trú, xác định T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã nhưng hiện T không có mặt tại địa phương không rõ đi đâu, làm gì. Ngày 24/4/2025 Trung tâm y tế thành phố Lai Châu trả lời kết quả xác định Vàng Văn T là người nghiện ma túy (heroine). Cùng ngày Công an phường Đ, tỉnh Lai Châu đã thông báo kết quả xác định T trạng nghiện ma túy cho T và tuyên truyền, giải thích quyền, nghĩa vụ trách nhiệm đăng ký cai nghiện tự nguyện của người nghiện ma túy cho T theo quy định tại Điều 28 Nghị Định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Đến ngày 06/5/2025 sau khi xác định T không đăng ký cai nghiện tự nguyện theo quy định, Công an phường Đ đã thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vàng Văn T, đồng thời ban hành Quyết định số 41/QĐ-QLNN về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 12/5/2025, Công an phường Đ, tỉnh Lai Châu đã ban hành văn bản số 21/ĐN-CNBB đề nghị xem xét hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vàng Văn T.

Tại phiên họp Đại diện cơ quan đề nghị có ý kiến: Giữ nguyên đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vàng Văn T tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lai Châu.

Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Vàng Văn T tại phiên họp thừa nhận: bản thân nghiện ma túy từ tháng 10/2022. Ngày 22/4/2025 T có sử dụng ma túy loại Heroine. Sau khi được Trung tâm y tế thành phố Lai Châu xác nhận T nghiện ma túy (loại heroine) và được Công an phường Đ tuyên truyền, vận động đăng ký cai nghiện tự nguyện T không đăng ký hình thức cai nghiện tự nguyện nào. T không có ý kiến hay khiếu nại gì về việc Công an phường Đ thông báo lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và giao T cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lai Châu quản lý giáo dục trong thời gian lập hồ sơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, việc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vàng Văn T đảm bảo đúng của quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính, Luật phòng chống ma túy và Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Nghị định 116/2021/NĐ – CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ, Thông tư 03/2025/TTLT—BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025. Hồ sơ đảm bảo, đầy đủ. Phiên họp diễn ra đúng quy trình và tuân theo pháp luật. Đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Công an phường Đ, tỉnh Lai Châu và xem xét đưa người bị đề nghị vào Cơ sở cai nghiện tỉnh Lai Châu với thời gian từ 12 đến 14 tháng.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, các ý kiến của cơ quan đề nghị, người bị đề nghị, kiểm sát viên.

XÉT THẤY

. Về trình tự, thủ tục: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Công an phường Đ, tỉnh Lai Châu đối với người bị đề nghị là Vàng Văn T đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 7, 8 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025, Điều 40, 41, 44 của Nghị định 116/2021/NĐ – CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ, quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

. Về hành vi vi phạm: Tại phiên họp Vàng Văn T thừa nhận hành vi vi phạm của mình như bản tường trình và biên bản lấy lời khai ngày 06/5/2025, việc T thừa nhận bản thân nghiện ma túy phù hợp với Phiếu kết quả xác định T trạng nghiện ma túy ngày 24/4/2025 của Trung tâm y tế thành phố Lai Châu đối với Vàng Văn T. T không có nơi cư trú ổn định. Sau khi được Công an phường Đ giải thích về quyền, nghĩa vụ trách nhiệm đăng ký cai nghiện tự nguyện T không đăng ký hình thức cai nghiện tự nguyện nào, hành vi này là vi phạm khoản 1 Điều 28 của Nghị định 116/2021/NĐ – CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Nên ngày 06/5/2025 Công an phường Đ lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện đối với T là đảm bảo theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ – CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.

Vàng Văn T là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hành chính, thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 32 của Luật phòng, chống ma túy, điều luật quy định:

“Điều 32. Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện;”

Vì vậy, ngày 22/4/2025 Công an phường Đ thông báo lập hồ sơ đề nghị xem xét đưa T vào cơ cai nghiện bắt buộc là đúng quy định của pháp luật.

. Về T tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

T tiết giảm nhẹ: Sau khi vi phạm, Vàng Văn T thành khẩn khai báo đây là T tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi bổ sung năm 2020.

T tiết tặng nặng: không có

Xét thấy, với T trạng hiện nay của người bị đề nghị Vàng Văn T việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như đề nghị của Công an phường Đ, tỉnh Lai Châu và quan điểm của đại diện viện kiểm sát tại phiên họp là phù hợp.

Vì vậy, để giúp đỡ, giáo dục Vàng Văn T có điều kiện cai nghiện thành công, rèn luyện để trở thành công dân khỏe mạnh, trở về tái hòa nhập cộng đồng tốt hơn dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc:

Căn cứ Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, 105, 107, 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi bổ sung một số điều năm 2020;

Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy năm 2021;

Căn cứ Điều 3, 5, 23, 24, 25, 31 và 32 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Căn cứ các Điều 40, 41, 44 của Nghị định 116/2021/NĐ – CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.

Căn cứ Điều 7, 8, 11 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vàng Văn T tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lai Châu.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày 06/5/2025 tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lai Châu.

3. Vàng Văn T có quyền khiếu nại, Công an phường Đ, tỉnh Lai Châu có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Người bị đề nghị, Công an phường Đ, tỉnh Lai Châu thi hành quyết định này.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ