vanban.org

Quyết định 23/2024/QĐ-TA

TAND Q. Kiến An, TP. Hải Phòng Tuyên án 09/07/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần T, sinh ngày 28 tháng 02 năm 1979, nơi cư trú: Tổ L 6, phường N, quận A, thành phố P.

Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (Cơ sở cai nghiện ma túy số 02 thành phố P, địa chỉ: Xã T, huyện T, thành phố P). Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "XLHC"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần T, sinh ngày 28 tháng 02 năm 1979, nơi cư trú: Tổ L 6, phường N, quận A, thành phố P.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN A
THÀNH PHỐ P
___________________
Số: 23/2024/QĐ-TA
A, ngày 09 tháng 7 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN A, THÀNH PHỐ P

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Vũ Ngọc Sinh

2. Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thị Tâm.

Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận A, thành phố P tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 25/QĐ-TA ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với:

Trần T, sinh ngày 28 tháng 02 năm 1979, nơi cư trú: Tổ L 6, phường N, quận A, thành phố P; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 7/12; tiền án, tiền sự: Không; con ông Đào Q và bà Nguyễn T. Vắng mặt.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận A, thành phố P; đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Hữu Đại, Chuyên viên (Theo Văn bản ủy quyền số 26/TB-LĐTBXH ngày 01 tháng 7 năm 2024).

2. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận A, thành phố P: Bà Phạm Thị Mai Dung - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Trần T là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2014, đang điều trị Methadone tại Cơ sở điều trị Methadone A thuộc Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 từ ngày 18-02-2020, nhưng vẫn sử dụng ma túy bằng hình thức chích vào ven tay. Ngày 21-6-2024, Công an phường N, quận A, thành phố P đã đưa Trần T đi xét nghiệm tại Trung tâm y tế phường N với kết quả xác định Trần T có nghiện ma túy, tên loại ma túy Morphine, nên đã lập biên bản vi phạm. Công an phường N đã ra Thông báo số 04/TB-CAP ngày 21-6-2024 về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần T với lý do trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 28 tháng 6 năm 2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N, quận A, thành phố P đã ra Thông báo số 06/QĐ-UBND về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần T. Đại diện gia đình đồng ý quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận A trình bày nội dung xem xét, đề nghị Tòa án nhân dân quận A, thành phố P quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đưa Trần T đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 02 thành phố P; địa chỉ: Xã T, huyện T, thành phố P.

Tại phiên họp, đại diện Viện Kiểm sát quận A, thành phố P phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ khi thụ lý hồ sơ cho đến trước thời điểm Thẩm phán công bố quyết định đã tuân thủ theo đúng quy định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, căn cứ hồ sơ và diễn biến tại phiên họp, đề nghị Tòa án nhân dân quận A chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận A, đưa Trần T đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 02 thành phố P; địa chỉ: Xã T, huyện T, thành phố P, thời hạn từ 12 tháng đến 15 tháng.

XÉT THẤY:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc được thẩm tra tại phiên họp Tòa án nhân dân quận A, thành phố P nhận định:

- Về tố tụng: Người bị đề nghị là Trần T vắng mặt tại phiên họp không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án, Tòa án nhân dân quận A, thành phố P tiến hành phiên họp vắng mặt Trần T.

- Về nội dung: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận A, thành phố P đối với Trần T đầy đủ, đúng quy định Điều 32 của Luật phòng chống ma túy; điểm d, khoản 2 Điều 6 và các điều 96, 103, 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020); điều 33, 41 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Xét thấy việc đưa Trần T vào cơ sở cai nghiện tập trung bắt buộc theo đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận A là cần thiết, phù hợp quy định của Điều 32 của Luật Phòng chống ma túy, các điều 95, 96, 103 và 104 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần T, sinh ngày 28 tháng 02 năm 1979, nơi cư trú: Tổ L 6, phường N, quận A, thành phố P.

2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (Cơ sở cai nghiện ma túy số 02 thành phố P, địa chỉ: Xã T, huyện T, thành phố P).

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định: Trần T có quyền khiếu nại trong hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định, Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội quận A, thành phố P có quyền kiến kiến nghị, Viện Kiểm sát nhân dân quận A, thành phố P có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án nhân dân quận A, thành phố P công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an quận A, thành phố P, Phòng Lao động

- Thương binh và Xã hội quận A, thành phố P, Ủy ban nhân dân phường N, quận A, thành phố P và Cơ sở cai nghiện ma túy số 02 thành phố P có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ