vanban.org

Quyết định 23/2023/QĐ-TA

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 23/05/2023 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Văn T.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, ngày 24 tháng 4 năm 2023. Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở xã hội B, thành phố Đ. Trong thời hạn 03… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Văn T.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THANH KHÊ -TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 23/2023/QĐ-TAThanh Khê, ngày 23 tháng 5 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG

Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Trần Thị Kim Ánh

2. Thư ký phiên họp: Ông Đoàn Công Hồng Lĩnh

Ngày 23 tháng 5 năm 2023 tại Cơ sở xã hội B, thành phố Đ. Tòa án nhân dân quận T, thành phố Đ tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 26/2023/QĐ-TA ngày 17 tháng 5 năm 2023 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Văn T - Giới tính: Nam

Sinh ngày: 14/01/1990

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 11/12;

Nguyên quán: Q;

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ 35, phường C, quận T, TP. Đ.

Tiền án: Không.

Nhân thân:

- Năm 2020 đi cai nghiện tự nguyện 06 tháng tại Cơ sở xã hội B- TP. Đ.

- Ngày 06/4/2021 bị UBND quận T ra Quyết định số 1122/QĐ-UBND ngày 06/4/2021 về việc quản lý sau cai với thời gian 12 tháng.

Con ông Nguyễn Văn T1 (chết) và bà Nguyễn Thị Kim L (SN 1965).

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Hoàng Quốc C - Chức vụ: Phó Trưởng phòng Phòng Lao động - Thương binh & xã hội quận T, thành phố Đ.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, thành phố Đ: Ông Nguyễn Lê V - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Quá trình vi phạm của ông Nguyễn Văn T như sau: Ngày 21 tháng 4 năm 2023 ông Thông sử dụng trái phép chất ma túy tại đường K, quận L, thành phố Đ. Ngày 24 tháng 4 năm 2023, Công an phường C, quận T kiểm tra thử test ma túy với ông T, kết quả dương tính với chất ma túy.

Ý kiến của đại diện phòng Lao động - Thương binh & Xã hội quận T: Đề nghị Tòa án nhân dân quận T ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở xã hội B, thành phố Đ đối với ông Nguyễn Văn T, thời gian cai nghiện bắt buộc là 12 tháng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T: Tòa án nhân dân quận T đã tuân thủ theo đúng quy định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; đảm bảo cho người tham gia phiên họp thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát thống nhất với đề nghị của cơ quan đề nghị là cần áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện đối với ông Nguyễn Văn T, đồng thời đề nghị Tòa án áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện đối với ông Nguyễn Văn T thời gian từ 12 tháng đến 15 tháng.

Ý kiến của người bị đề nghị là ông Nguyễn Văn T: Tôi có sử dụng trái phép chất ma túy, tôi nhận thấy hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật, tôi không đăng ký cai nghiện tự nguyện và đồng ý về việc Tòa án xem xét đưa tôi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để tôi có điều kiện chữa bệnh tốt hơn.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; sau khi nghe ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, người bị đề nghị và đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, thành phố Đ có đủ căn cứ để xác định:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt

buộc đối với ông Nguyễn Văn T được lập đầy đủ và hợp lệ theo quy định tại các Điều 6, 95, 96, 103 và 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020.

Xét thấy, vào ngày 21 tháng 4 năm 2023 ông Nguyễn Văn T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra thử test ma túy, kết quả xét nghiệm xác định ông Nguyễn Văn T dương tính với chất ma túy theo Phiếu kết quả ngày 24/4/2023 có xác nhận của Trung tâm y tế quận T, thành phố Đ. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trái phép của ông Nguyễn Văn T đã vi phạm các quy định của pháp luật về trật tự quản lý hành chính nhà nước. Mặc dù nhận thức rõ tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng xã hội nhưng ông Thông vẫn cố ý sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu nghiện của bản thân. Ông Nguyễn Văn T đã có đơn từ chối cai nghiện tự nguyện theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma tuý. Hiện nay, ông T đang được quản lý tại Cơ sở xã hội B theo Quyết định số 211/QĐ- UBND ngày 24 tháng 4 năm 2023 của UBND phường C, quận T, thành phố Đ. Do vậy, chấp nhận đề nghị của đại diện Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội quận T và đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp, cần quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Văn T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Trong quá trình lập hồ sơ cũng như tại phiên họp, ông Nguyễn Văn T thừa nhận có sử dụng ma túy, đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, hứa không tái phạm. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Văn T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, ngày 24 tháng 4 năm 2023. Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở xã hội B, thành phố Đ.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định này, ông Nguyễn Văn T có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội quận T có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân quận T có quyền kháng nghị.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Cơ sở xã hội B, thành phố T, thành phố Đ.

Cỡ chữ