- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Trần Quang Phóng yêu cầu tuyên bố bà Loan mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông PH.
- Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 23/2020/QĐST-VDS | B, ngày 15 tháng 6 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Quyên
- Thư ký phiên họp: Ông Phan Văn Tiến - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân
dân thành phố B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên họp: Bà
Nguyễn Hoàng Thế Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 776/2019/TLST-VDS ngày 11 tháng 12 năm 2019 về việc “Tuyên bố một người mất tích”, theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự sơ thẩm số 488/2020/QĐST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: ông PH, sinh năm: 1974 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: phường HA, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Ngày 24/10/2019 ông PH nộp đơn yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà L, sinh năm 1978; Đăng ký thường trú: phường HA, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, địa chỉ cư trú cuối cùng: ấp CH, xã HA (nay là khu phố CH, phường HA), thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Theo đơn yêu cầu ông PH trình bày: ông và bà L, sinh năm 1978; địa chỉ cư trú cuối cùng: ấp CH, xã HA (nay là khu phố CH, phường HA), thành phố B, tỉnh Đồng Nai tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2001, tại Uỷ ban nhân dân phường TH, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc, nhưng sau đấy phát sinh mâu thuẫn không thể giải quyết được, ngày 01/8/2017 bà L bỏ nhà đi mà không thông báo cho ông và người thân biết là đi đâu, ông và người thân nhiều lần liên lạc và đăng báo tìm kiếm nhưng không có kết quả.
Nay ông đề nghị Tòa án tuyên bố mất tích đối với bà L, sinh năm 1978; địa chỉ cư trú cuối cùng: ấp CH, xã HA (nay là khu phố CH, phường HA), thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố B nhận định:
Về thủ tục tố tụng: ông PH và bà L là vợ chồng với nhau, có đăng ký kết hôn nên ông PH có quyền yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà L.
Về quan hệ pháp luật: ông PH yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà L, nên quan hệ pháp luật được xác định là “Yêu cầu tuyên bố mất tích”, quy định tại khoản 3 Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích hiện có nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ ấp CH, xã HA (nay là khu phố CH, phường HA), thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vì vậy, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố B, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Trong quá trình chuẩn bị xét đơn yêu cầu của ông PH, Tòa án nhân dân thành phố B đã đăng thông báo tím kiếm bà L trên cổng thông tin điện tử của Tòa án và các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định pháp luật. Cụ thể các ngày 08/01/2020, số 06 (11464); ngày 09/01/2020, số 07 (11465) và ngày 10/01/2020 số 08 (11466) ông PH đã nhắn tin thông báo tìm kiếm trên báo Nhân dân trong ba số liên tiếp và được phát thanh trên Đài tiếng nói Việt Nam trong ba ngày liên tiếp từ ngày 30,31/01/2019 và ngày 01/02/2020 theo quy định tại Điều 384, Điều 385 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đến nay, đã hết thời hạn thông báo tìm kiếm theo quy định tại khoản 2 Điều 388 của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng không có tin tức gì của bà L. Tại biên bản xác minh của Tòa án ngày 30/12/2019, Công an phường Hóa An đã xác nhận bà L có đăng ký thường trú tại địa chỉ phường HA, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, địa chỉ cư trú cuối cùng: phường HA, thành phố B, tỉnh Đồng Nai bỏ đi khỏi địa phương từ tháng 08/2017, đi đâu địa phương không rõ.
Từ những căn cứ trên, xét thấy bà L đã biệt tích hơn 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực là bà L, sinh năm 1978 còn sống hay đã chết. Căn cứ khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015, xét yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông PH lá có căn cứ chấp nhận.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: ông PH phải nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự 300.000 đồng, số tiền trên được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí ông PH đã nộp tại biên lai thu số 0001164 ngày 22/11/2019 của Chi cục thi hành án dân sự B. ông PH đã nộp xong.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát thành phố B tham gia phiên họp: Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc, đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của ông PH, tuyên bố bà L mất tích. Quan điểm đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 361, 369, 370, 371, 372, 387, 388, 389 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Áp dụng Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông PH.
2. Tuyên bố bà L, sinh năm 1978; Đăng ký thường trú: phường HA, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, địa chỉ cư trú cuối cùng: ấp CH, xã HA (nay là khu phố CH, phường HA), thành phố B, tỉnh Đồng Nai đã mất tích.
3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: ông PH phải nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự 300.000 đồng, số tiền trên được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí ông PH đã nộp tại biên lai thu số 0001164 ngày 22/11/2019 của Chi cục thi hành án dân sự B. ông PH đã nộp xong.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND thành phố B (2); - Chi cục thi hành án thành phố B; - Các đương sự (3); - Uỷ ban nhân dân phường Hóa An; - Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Quyên |